Photos

Recent Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27,

June 14 – 2014

Portland Buddhist Festival 2014
Lễ hội Phật giáo thường niên lần thứ 11

Ngày 14 tháng sáu năm 2014

Colonel Summers Park
SE 17th and Taylor, Portland, Oregon

Sự kiện này do Hội Ái hữu Phật giáo Portland tổ chức hằng năm với nguyện ý tạo cơ hội để giới thiệu Phật giáo, cũng như mọi người gặp gỡ, chia sẻ tin tức, nụ cười, và nghi lễ.

Sunrise-May-22-2014 (Tam tuong Su thanh)Festival 2014 (48)Festival 2014 (1)Festival 2014 (2)Festival 2014 (12)Festival 2014 (13)Opening with Ringing of the Bell 108 timesFestival 2014 (8)Festival 2014 (3)Festival 2014 (11)Festival 2014 (14)Festival 2014 (16)Festival 2014 (17)Festival 2014 (18)Festival 2014 (21)Festival 2014 (19)

11th Annual Buddhist Festival in the Park
One Breath – Action and Insight

Buddhist Peace Fellowship of Portland is honored to welcome the touring monks of Gaden Shartse Monastery. The monks were join the 11th Annual Buddhist Festival in the Park on Saturday, June 14 with several of their stage performance offerings, as well as their own items at their booth.

Many lineages in Buddhism practice an awareness of the breath, and many also recognize the importance of the paired responses of action and insight, or compassion and wisdom. Taken separately, action alone can be unskillful, while insight alone can be cold and unfeeling. Together, action and insight give balance to the other. Compassion and wisdom are sometimes compared to a pair of wings making it possible to fly. With awareness of this one breath, we have the opportunity to pause, gain insight, and act from that spaciousness of spiritual practice.

In Zen, this is sometimes expressed as the need to cultivate time on the cushion, but also to get up off the cushion and act with skillful compassion in the wider world. We are happy to welcome local teacher Hogen Bays, abbot of Great Vow Monastery as the keynote speaker on this theme.

Participating groups have booths through the day from 11 am to 4:30 or 5:00 pm. At noon, bells ring, and workshops on how to meditate and an introduction to Buddhism was offered. At 1:30, Sensei Hogen gave his Dharma Talk, and at 2:30 several Buddhist practitioners spoke on the theme as part of the Discussion Panel. Before the Monks of Gaden Shartse close the day with their performances at 4:00, BPF Portland hosted a drawing for prizes related to Buddhism. All festival attendees are eligible for one free ticket, and can purchase raffle tickets for more chances….

While the Dharma talk and panel discussion occur in the park’s main shelter, the children’s pavilion will be busy with story times, crafts, and other activities.

Many different Portland area communities represented at the booths. Pure Land, Zen, Vajrayana, Vipassana, and non-sectarian groups shared news and information about their communities. The event gives the opportunity to introduce Buddhism to the curious, as well as for people to meet and share news, smiles, and rituals.

Festival 2014 (25)Festival 2014 (50)Festival 2014 (52)Festival 2014 (53)Festival 2014 (31)Festival 2014 (38)Festival 2014 (39)Festival 2014 (40)Festival 2014 (41)Festival 2014 (43)Festival 2014 (45)Festival 2014 (46)Festival 2014 (44)

Với quyết tâm thành tựu ước nguyện tột cùng cao quý
Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh,
Ước nguyện trân quý hơn cả viên bảo-châu như-ý
Xin cho con luôn nghĩ đến muôn người muôn loài bằng tâm trìu mến.

♥♥♥

With a determination to achieve the highest aim
For the benefit of all sentient beings,
Which surpasses even the wish-fulfilling gem,
May I hold them dear at all times.

(By Geshe Langri Thangpa
Tâm-Bảo-Đàn chuyển ngữ)

Water Lily July 2014. (42)

Buddhist Festival in the Park

Coming years:  June 13, 2015;  June 4, 2016.
Contact bpfportland@yahoo.com for more information.

Water Lily July 2014. (15)

Pháp Hội Niệm Phật 

Thứ Bảy ngày 19 tháng 7 năm 2014
Chủ Nhật ngày 20 tháng 7 năm 2014

A-Di-Da-Phat

THÔNG BÁO PHÁP HỘI NIỆM PHẬT

 Thượng Tọa Thích Trí Thoát làm chủ lễ

  Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Kính bạch chư tôn đức tăng ni,

Kinh thưa chư Phật tử, thiện hữu tri thức xa gần,

Chúng con kính nghe chư Phật, chư Tổ dạy rằng: Thiện ác không rời một niệm ở tâm ta,

Không làm việc ác.

Làm mọi việc lành.

Tự thanh tịnh tâm mình.

Là điều chư Phật dạy.

Đây là chân đế của đạo Phật, là kim chỉ nam giúp chúng ta sửa ác hướng thiện, là cửa ngõ hạnh lành, là nền tảng vững chắc, là thuyền bè kiên cố đưa chúng ta đến pháp duyên thù thắng, vượt khỏi luân hồi lục đạo. Đức từ phụ bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từ bi giới thiệu đến chúng ta một thế giới chân thật an lành. Tây Phương Tịnh độ là nơi thù thắng. Hạnh nguyện của đức Phật A Di Đà đã làm chấn động cả mười phương chư Phật, chư Bồ tát, chư hiền thánh tăng. Những ai đã trọn nhân lành, hoặc đã dừng các nghiệp ác, không còn kết tạo nữa, buông xuống vạn duyên, chí thành phát nguyện được sanh Tây phương Tịnh độ, dứt mọi nghi ngờ thì nhất định sẽ được vãng sanh. Bi tâm hạnh nguyện của Phật A Di Đà rộng lớn không thể nghĩ bàn. Ngài cứu giúp tất cả chúng sanh sớm trở về thể tánh vô lượng thọ, vô lượng quang, không ngằn mé không ngăn ngại của chúng ta. Cũng vì tham chấp mê si, nên chư Phật, chư Tổ đã từ bi khổ nhọc khai thị chỉ rõ con đường chân đạo Tây Phương Cực Lạc. Chúng ta há không nguyện vãng sanh hay sao?  Cũng vì chí thành quyết vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ nên chúng tôi phát tâm mở Pháp Hội Niệm Phật hầu được kết duyên cùng khắp pháp giới. Vì nhận ra mình là kẻ cùng tử, còn mãi lang thang, đến lúc phải trở về, chớ để cha già tựa cửa mong chờ. Chúng ta hãy cùng nhau trở về nhà Tịnh độ chân tâm của chính ta. Cũng nhờ nương Phật lực nguyện hồi hướng đến tất cả chúng sanh trong lục đạo, hữu tình, vô tình đồng được vãng sanh cực lạc quốc. Buổi lễ với sự từ bi chứng minh, hướng dẫn củaThượng tọa Thích Trí Thoát cùng chư tôn đức Tăng Ni đến tham dự. Chúng tôi xin thông báo đến chư thiện hữu xa gần về tham dự. Để tiện bề sắp xếp buổi lễ được trang nghiêm thanh tịnh xin chư vị hoan hỉ gọi điện thoại đến ghi danh tham dự.

Nam mô A Di Đà Phật.

Niệm Phật Đường Viên Thông
201 North 19th Avenue, Cornelius, Or 97113

 Nam Mô A Di Ðà Phật
Thích Trí Thoát niệm


Uploaded by hanhlyviengiac

Pháp Hội Niệm Phật (6)Pháp Hội Niệm Phật (4)Pháp Hội Niệm Phật (5)Pháp Hội Niệm Phật (8)Pháp Hội Niệm Phật (7)Pháp-hội-Ðại-Bi-2013-OREGON-140-1024x516hoa Sen trắng 7

Let nature remind us: when the hardest times end, then the season of Spring is a welcome surprise…..

Pretty Spring blossoms

Anh Dao 2015 (1)Anh Dao 2015 (18)Anh Dao 2015 (14)Anh Dao 2015 (11)Anh Dao 2015 (16)Anh Dao 2015 (25)Anh Dao 2015 (24)Anh Dao 2015 (17)Anh Dao 2015 (15)

Inner Beauty !!!
Rejoice with each breath
Open up and let your inner beauty shine through…

Anh Dao 2015 (12)Thuy Huong Vang 2015 (1)

Cuộc đời sẽ bình yên biết bao nếu ta có cái nhìn thấu đáo với mọi sự chung quanh, hãy bằng lòng với những duyên khởi và duyên tan, có đến tất có đi, có vui ắt phải có buồn…
.
Trang Jan 7 - 2015 - mh

TÁM BÀI KỆ CHUYỂN HOÁ TÂM

Geshe Langri Thangpa
Tâm-Bảo-Đàn chuyển từ Anh-ngữ sang Việt-ngữ

Với quyết tâm thành tựu ước nguyện tột cùng cao quý
Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh,
Ước nguyện trân quý hơn cả viên bảo-châu như-ý
Xin cho con luôn nghĩ đến muôn người muôn loài bằng tâm trìu mến.

Mỗi khi con gặp gỡ tiếp xúc với bất kỳ ai
Xin cho con tự coi mình là kẻ thấp kém nhất,
Và tận đáy lòng chân thật,
Xin cho con luôn tỏ lòng kính trọng, tôn quý tất cả mọi người.

Xin cho tâm con luôn quán xét mọi hành động của mình,
Và ngay khi tâm bám chấp và tham sân si sinh khởi,
Trở thành chất độc hại mình, hại người,
Xin cho con không chút ngăn ngại tìm cách đối trị và đoạn diệt chúng.

Khi con nhìn thấy những kẻ khó thương, khó chịu
Đang bị thống trị bởi bao phiền não và ý tưởng tiêu cực,
Xin cho con ôm giữ họ trong lòng như người thân hiếm quý,
Như kho tàng châu báu mà con mới vừa khám phá!

Khi có kẻ, vì ghen ghét,
Đã đối xử không tử tế, lạm dụng, vu khống hay miệt thị con,
Xin cho con nhận chịu hết mọi thua thiệt,
Và dâng cho họ phần thắng lợi vinh quang.

Có kẻ, được con hết lòng giúp đỡ,
Hay được con đặt trọn niềm tin,
Đã đối xử tệ mạt làm tim con tan nát,
Xin cho con vẫn xem họ không khác nào bậc tôn sư chân quý.

Tóm lại, dù trực tiếp hay gián tiếp, xin cho con dâng hiến mọi an vui, phúc lạc
Đến tất cả chúng sinh — những bà mẹ hiền từ vô lượng kiếp,
Xin cho con lặng lẽ cam nhận
Hết tất cả mọi đau đớn, tủi hờn.

Xin cho tất cả những nguyện ước trên
Không bị ‘tám pháp thế gian’ tầm thường làm cho ô nhiễm;
Và xin cho con, nhận thức ra được tính huyễn ảo của tất cả,
Buông bỏ hết bám chấp, rời xa mọi níu kéo thường tình.

(11/03/2004)

The Eight Verses on Transforming the Mind
By Geshe Langri Thangpa

With a determination to achieve the highest aim
For the benefit of all sentient beings,
Which surpasses even the wish-fulfilling gem,
May I hold them dear at all times.

Whenever I interact with someone,
May I view myself as the lowest amongst all,
And, from the very depths of my heart,
Respectfully hold others as superior.

In all my deeds, may I probe into my mind,
And as soon as mental and emotional afflictions arise —
As they endanger myself and others —
May I strongly confront them and avert them.

When I see beings of unpleasant character
Oppressed by strong negativity and suffering,
May I hold them dear — for they are rare to find —
As if I have discovered a jewel treasure!

When others, out of jealousy,
Treat me wrongly with abuse, slander and scorn,
May I take upon myself the defeat
And offer to others the victory.

When someone whom I have helped,
Or in whom I have placed great hopes,
Mistreats me in extremely hurtful ways,
May I regard him still as my precious teacher.

In brief, may I offer benefit and joy
To all my mothers, both directly and indirectly,
May I quietly take upon myself
All hurts and pains of my mothers.

May all this remain undefiled
By the stains of the eight mundane concerns;
And may I, recognizing all things as illusion,
Devoid of clinging, be released from bondage.

.
Nguồn: Chùa Bửu Hưng
.
Queen Anne's lace flower 2014 (8)

GIỌT SƯƠNG ĐẦU NGỌN CỎ

Tác giả : Thích Nhất Hạnh

Hồi nãy, trước khi ra thiền đường, tôi có hỏi thị giả còn mấy phút. Thị giả nói còn mười phút. Mười phút là nhiều hay ít? Và mình sử dụng mười phút đó như thế nào?

Tôi mặc áo và đi vào phòng tắm. Tôi mở nước để rửa mặt cho mát. Tôi mở rất ít. Những giọt nước trong vòi chảy ra, gần như là từng giọt, rơi trên bàn tay phải của tôi. Nó rơi xuống như những giọt tuyết vì nước lạnh lắm. Nó gây cảm giác mát lạnh, làm cho mình tỉnh. Tôi đưa những giọt nước đó lên trên mặt. Mặt tôi cũng được hưởng cái lạnh của những giọt nước. Tôi làm như vậy ba lần, đưa tay phải hứng những giọt nước và đưa lên mặt. Trong thời gian đó, tôi có hạnh phúc nhiều lắm. Tôi thấy được đây là những giọt tuyết từ trên Hy Mã Lạp Sơn, từ trên núi Pyrénées đi xuống. Hiện giờ, nó đang chạm vào trán, vào mắt và vào má tôi. Tôi thấy rất rõ và tôi mỉm cười nhận diện sự có mặt của những giọt tuyết ấy.

Thời gian đó chỉ diễn ra trong khoảng mười hay mười lăm giây thôi, nhưng nó rất đáng sống và rất dễ chịu. Trong lúc tôi nâng những giọt tuyết đó đưa lên má, đưa lên mắt, tôi không nghĩ tới bài pháp thoại mà tôi sẽ nói. Tôi không nghĩ tới tôi cần phải làm gì trong thời gian tới, mà tôi an trú được trong giây phút hiện tại. Tôi không nghĩ đến chuyện quá khứ. Khi cầm chiếc khăn lông màu vàng nhỏ chậm lên mặt, lau khô những giọt nước đó, tôi nghĩ rằng, những giây phút như vậy hết sức là mầu nhiệm. Và tôi mỉm cười. Tôi mỉm cười một mình thôi, vì trong phòng tắm đâu có ai mà cười với, nụ cười này không phải là nụ cười có tính cách ngoại giao.

Mở cửa đi ra, tôi khoác áo ngoài vào, rồi từ từ bước lên trên sân cỏ. Trên sân cỏ cũng có những giọt sương. Có những giọt sương đậu trên đầu ngọn cỏ, những giọt sương này cũng không khác với những giọt nước mà tôi đã phả lên trên mặt. Những giọt tuyết trên Hy Mã Lạp Sơn, đi đâu mình cũng gặp nó thôi. Nhìn lên trời, mình thấy nó dưới dạng một đám mây, mai mốt nó sẽ tìm đường đi vào phòng tắm của mình, chắc chắn như vậy. Trong bài thơ «Thề Non nước» Thi sĩ Tản Đà có nói:

Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Sự đoàn tụ của mình với những giọt tuyết xảy ra trong từng giây phút. Bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà là một bài thơ lục bát khá hay, nói về mối tình giữa “núi và sông”. Mưa trên núi và làm cho núi xanh. Nhưng nước mưa, dưới dạng những dòng suối, đi xuống núi và đi về đồng bằng. Nó chào tạm biệt núi, khiến cho núi nhớ, núi thương, núi nói: “Nước ơi, bao giờ thì trở lại với núi?”

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non

Đó là một sự trách móc. Nước đi sao không trở về? Nước đi, đi mãi, không về cùng non. Điều đó không đúng! Sau lời than thở dài dòng của núi, thi sĩ đã “khai thị” cho núi. Núi đừng có nghĩ như vậy!

Non kia đã biết hay chưa
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Vậy thì sự hội ngộ của quí vị với những giọt tuyết trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn xảy ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày. Khi quí vị rửa mặt, khi quí vị bước những bước chân có chánh niệm trên thảm cỏ, khi quí vị ngẩng lên nhìn mây, lúc nào những giọt sương, những giọt tuyết của đỉnh Hy Mã Lạp Sơn cũng vẫn ở bên quí vị và trong quí vị, tại vì cơ thể chúng ta có ít nhất là bảy mươi phần trăm được làm bằng tuyết, bằng nước.

Chúng ta luôn luôn có nhau. Những giờ phút đó là những giờ phút rất nhiệm mầu. Nếu tôi quên thì quí vị nhắc, nếu quí vị quên thì tôi nhắc. Đó là ý nghĩa của tăng thân. Chúng ta là sư anh, sư chị, sư em của nhau, và chúng ta thực tập chánh niệm để tịnh độ có thể có mặt trong giây phút hiện tại, để tịnh độ không còn là ước mơ thuộc về tương lai. Điều đó là điều chúng ta có thể làm được ngay ngày hôm nay. Chúng ta không cần phải đợi tới vài ba năm nữa.

Khi ta trồng một cây cam, ngay khi còn bé, cây cam đã bắt đầu hiến tặng. Nó hiến tặng cho ta những lá cam rất xanh. Cây cam không nghĩ rằng: “Ta phải lớn lên! Ta phải có hoa, có quả thì ta mới ích lợi cho đời!” Cây cam còn nhỏ, chưa đầy một thước, nhưng nó đã đẹp. Nhìn vào cây cam, ta đã thấy hoa và trái rồi. Một cây cam xanh tốt như vậy cho ta niềm tin. Cây cam không những hiến tặng hoa trái mà còn hiến tặng sự có mặt mầu nhiệm của nó. Một cây cam cũng giống như một giọt sương, một giọt tuyết, nó rất là mầu nhiệm. Gặp cây cam ta cũng phải cúi đầu chào, tại vì cây cam là một viên đại sứ do đất trời gởi tới: “xin chào cây cam xinh đẹp.” Ta có thì giờ để ngừng lại và chào cây cam không, hay là ta tiếp tục hấp tấp đi tìm một cái gì đó? Chúng ta đã đi tìm suốt đời rồi!
Có một thiền sinh lên hỏi thầy Triệu Châu: “Mục đích của tổ Bồ Đề Đạt Ma qua bên này là gì?” Thiền sư Triệu Châu trả lời: “Hồi nãy, đi ngang qua sân trước vào đây, con có thấy cây tùng đứng đó không?” Cây tùng hay cây cam cũng vậy thôi. Nếu trên con đường tới phòng thầy, đi ngang qua cây cam mà quí vị không thấy, không chào cây cam, thì tới phòng thầy quí vị cũng không thấy thầy được. Thấy được cây cam là thấy thầy rồi. “Cây tùng trước sân” đã thành một công án lớn của Thiền Tông.

Xin quí vị đừng đánh mất cơ hội để đón nhận những giọt sương mai, đón nhận những giọt tuyết trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Đừng đánh mất cơ hội để được tiếp xúc với cây cam. Cây tùng của thiền sư Triệu Châu đâu phải nằm bên Tàu! Nó nằm ngay ở đây! Hằng ngày mình đi ngang qua, mình không dòm ngó tới, tại vì mình nghĩ có một cái gì quan trọng hơn để mình đi tìm. Đôi khi đó là một chút danh, một chút lợi; đôi khi đó là một sự công nhận của người kia đối với giá trị của mình…, chúng ta đi kiếm những cái như vậy.

Mình là người tu thì giờ phút nào của đời sống hằng ngày cũng là giờ phút của sự hiến tặng. Đừng nghĩ rằng ta phải giàu có, phải quyền thế, phải có ảnh hưởng lớn ta mới có thể hiến tặng được cho đời. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở trong chánh niệm, mỗi nụ cười đều là tặng phẩm rất quí giá mà ta có thể hiến tặng cho tăng thân, cho đời.

Một sư chú mới tu có hai tháng thôi nhưng đi những bước có chánh niệm. Sư chú hiến tặng hằng ngày bước chân đó cho tăng thân, làm đẹp lòng thầy, đẹp lòng các sư anh của mình. Sư chú là một cây cam, sư chú hiến tặng sự xanh tốt của những lá cam, hoa cam, trái cam. Sẽ buồn biết bao nhiêu nếu cây cam không hiến tặng được lá, được hoa, được trái! Người tu cũng vậy. Sẽ rất là buồn thảm nếu người tu không hiến tặng được những hoa trái của sự thực tập của mình trong đời sống hằng ngày. Mỗi câu nói, mỗi cái nhìn, mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều là những tặng phẩm quí giá mà người tu có thể hiến cho đời. Trước hết là cho thầy mình, cho các sư anh, sư chị, sư em của mình. Đời sống hằng ngày của chúng ta có thể được gọi là đời sống của sự hiến tặng. Ta đừng nói rằng ta không có gì để hiến tặng. Không! Ta có rất nhiều châu báu để hiến tặng. Một hơi thở có ý thức, một nụ cười thân hữu, một cái nhìn từ bi, một bước chân có chánh niệm, một cử chỉ an ủi, vỗ về, đó là những món quà hiến tặng của chúng ta. Nó được chế tác bằng nếp sống chánh niệm.

Trong khi hiến tặng, ta tiếp nhận được biết bao nhiêu tặng phẩm của đất trời. Một giọt sương đầu ngọn cỏ, một bông hoa nở bên vệ đường, một ngôi sao lấp lánh buổi sáng khi ta mở cửa ra, đó là tặng phẩm của đất trời mà ta có thể tiếp nhận trong mỗi giây phút. Vậy thì, mười phút là nhiều hay là ít? Ta có khả năng quản lý mười phút của ta hay không? Khả năng của chúng ta để quản lý mười phút như thế nào? Hay ta để mười phút tuột qua một cái như chớp nhoáng? Đó là những câu mà mỗi người phải tự hỏi.

Bất cứ một chuyện gì xảy ra cho chúng ta trong đời sống hằng ngày cũng có thể coi như là một tiếng chuông chánh niệm, ví dụ như là một tai nạn xe hơi. Tai nạn xe hơi của một người thân hay của một người không thân đều có thể là một tiếng chuông chánh niệm. Mình biết rằng tai nạn đó có thể xảy ra cho mình hay xảy ra cho bất cứ ai trong ngày hôm nay hoặc là trong ngày mai. Khi thấy được tai nạn đó thì mình có sự tỉnh thức. Mình nhắc nhở mình phải làm thế nào để sống có chánh niệm, để làm giảm thiểu trường hợp làm xảy ra tai nạn càng nhiều càng tốt. Nhiều khi tai nạn xảy ra không phải là do từ ngoài đến mà là do từ trong mình ra. Khi thiếu chánh niệm thì mình có những suy tư, nói năng và hành động thế nào đó để tai nạn có thể xảy ra.

Nhiều người nghĩ, nếu mình mua một chiếc xe hơi thật bền, tốt thì sẽ có an ninh hơn trong khi lái xe. Nhưng những người tu tập như chúng ta thì nghĩ rằng, năng lượng hay yếu tố bảo vệ chúng ta vững chãi nhất không phải là yếu tố vật chất, không phải là trương mục trong ngân hàng, không phải là quyền thế, không phải là quân đội, không phải là vũ khí tinh vi nhất, mà là chánh niệm. Có niệm thì có định. Có niệm và định thì chúng ta thấy được tình trạng và hoàn cảnh đích thực của mình. Chúng ta sẽ không làm những điều chiêu cảm tai nạn đến với mình.

Tai nạn ngày 11 tháng 9 ở New York là một tai nạn rất lớn. Nó làm rung động nước Mỹ và làm rung động cả thế giới. Những nhà chính trị nước Mỹ nghĩ đến chuyện phải bảo vệ nước Mỹ bằng phương tiện quân sự, bằng phương tiện an ninh. Gần đây, một vị Hồng Y ở Boston, trong lá thơ ông gửi cho tổng thống Mỹ đã nói: Nước Mỹ đã hành động như thế nào để các quốc gia trên thế giới thù ghét nước Mỹ. Nước Mỹ bị thù ghét bởi vì nước Mỹ đã yểm trợ cho những chính thể độc tài trên thế giới. Đó là một trong những nguyên do làm cho nước Mỹ trở thành mục tiêu của sự khủng bố. Đức Hồng Y nói: Có những nước như Canada, Thụy Điển, những nước khá lớn, mà tòa đại sứ của họ chưa bao giờ bị bỏ bom. Họ không trở thành mục tiêu của sự tấn công của quân khủng bố. Những nước đó không gieo nhân của sự thù ghét.

Tai nạn đến là do mình không có chánh niệm. Vì vậy, mình không biết mình đang làm gì, mình đang gieo hạt giống nào khiến cho sự thù hận, khiến cho tai nạn đến với mình. Trong đạo Bụt, chúng ta học được bài học rằng: yếu tố bảo vệ chúng ta vững chãi nhất là chánh niệm, là chánh định. Niệm và định đem tới tuệ. Tuệ cho chúng ta biết mình nên làm gì và không nên làm gì để đừng chiêu cảm tai nạn cho chúng ta. Lá thư của Đức Hồng Y đã được dịch và đăng trong tờ báo Pháp tên là Témoignage chrétien.

Trong truyền thống Việt Nam chúng ta hay nói, chính phúc đức của mình bảo vệ cho mình. Một chiếc xe đắt tiền cách mấy cũng không thể nào bảo vệ sinh mạng của mình. Nếu mình ăn ở có đức thì chẳng những mình bảo vệ cho mình mà còn bảo vệ được cho con cháu mình, xóm làng mình. Muốn chống lại tai nạn thì ta phải ăn ở cho có đức, phải có lòng từ bi, phải có sự thương xót. Điều đó đúng về phương diện cá nhân mà cũng đúng về phương diện tập thể. Một quốc gia mà hành xử từ bi với tất cả quốc gia khác thì quốc gia đó được bảo hộ bởi năng lượng từ bi, bởi cái đức của chính mình. Đó là ý hướng mà Đức Hồng Y ở Boston muốn tỏ bày cho tổng thống Bush.

Sự thực tập của chúng ta tại Làng Mai là mỗi ngày làm cho năng lượng của chánh niệm càng lớn, vì năng lượng của chánh niệm có khả năng bảo hộ ta. Hôm qua đi vào nhà bếp xóm Thượng, tôi thấy một số các thầy và các thiền sinh đang làm việc. Tôi có hỏi một thiền sinh cư sĩ:
– Bác đang làm gì đó?
Bác thiền sinh trả lời:
– Con đang nấu ăn.
Tôi nói:
– Bác trả lời như vậy thì tôi thất vọng quá. Bác phải trả lời là con đang thực tập hơi thở chánh niệm.
Cố nhiên, mình ở trong bếp là vì mình nấu ăn, chuyện đó đâu cần phải hỏi. Mình trả lời “con đang nấu ăn” thì cũng như mình cho là thầy mình không thông minh. Câu hỏi của thầy không phải là một câu hỏi! Câu hỏi của thầy là một tiếng chuông chánh niệm. Thầy biết chắc rằng mình đang nấu ăn, thầy chỉ hỏi để mình trở về với hơi thở chánh niệm. Trong khi nấu ăn mà mình theo dõi hơi thở thì trong suốt buổi nấu ăn đó mình đang tu tập năng lượng chánh niệm. Thầy trò giúp nhau là ở chỗ đó thôi. Câu hỏi của thầy là để nhắc nhở đệ tử thực tập chánh niệm.

Trong một chuyến đi Ấn Độ, phái đoàn Làng Mai sử dụng xe bus rất nhiều. Thỉnh thoảng trên xe có tiếng chuông chánh niệm để mọi người trở về với hơi thở. Có một lần đại chúng Làng Mai đi về, trời tối. Trên xe ca, tôi thấy mọi người đều ngủ, chỉ có ông tài xế và tôi là không ngủ. Ông tài xế mà ngủ thì nguy lắm, sự tỉnh táo của ông tài xế bảo vệ được sinh mạng của bao nhiêu người trên xe. Tôi nghĩ mình phải yểm trợ cho ông tài xế. Tôi không ngủ. Ngồi bên ông tài xế, tôi thở và thỉnh thoảng hỏi ông một vài câu để ông có người đối thoại và ông đừng buồn ngủ. Tôi hỏi những câu rất bình thường, như là: ông làm mấy giờ đồng hồ một ngày? Ông có mấy đứa con? Bà ở nhà làm gì trong khi ông đi lái xe? Cố nhiên là câu chuyện không thật sự cần thiết lắm. Tôi là một người không ưa nói xã giao. Thường thường, tôi không hỏi những câu như vậy. Nhưng vì sinh mạng của mọi người trên xe tùy thuộc vào sự tỉnh thức của một người. Tôi muốn yểm trợ người đó duy trì sự chánh niệm cho nên tôi đã hỏi những câu như vậy và tôi lắng lòng nghe những câu trả lời. Đó là sự thực tập của tôi.

Mỗi khi lái xe từ Loubès-Bernac (xóm Hạ) đi Dieulivol (xóm Mới) hay từ Dieulivol đi Thénac (xóm Thượng), quý vị phải lái tới nửa giờ đồng hồ. Nếu quí vị để tâm tư tán loạn thì nửa giờ đó bỏ đi rất uổng. Cố nhiên là quí vị tới để nghe pháp thoại, nhưng nửa giờ ngồi trên xe quí vị làm gì? Không lẽ quí vị chỉ nói chuyện, nói những chuyện không quan trọng và để tư duy đi theo những chuyện không quan trọng? Trên xe chín người hay năm mươi người, mà có một người thở thì xe đó có giá trị, xe đó có Bụt, có Pháp và có Tăng bảo hộ.

Cách đây độ mười ngày, tôi có dạy thị giả của tôi, tức sư chú Pháp Hiển, là: “Mỗi khi lái xe về xóm Mới hay lái xe trở về xóm Thượng, nếu con gặp một chiếc đi ngược chiều thì con nên nhìn chiếc xe đó như một tiếng chuông chánh niệm. Con trở về với hơi thở và con thở. Sau khi thở được mười lần rồi thì con nhắc những người trong xe cùng thở với con. Con đừng nhắc trước khi con thở xong, tại vì mình phải thực tập trước.”
Khi lái xe từ xóm Thượng về xóm Mới, trong nửa giờ mình có thể gặp ba hay năm chiếc xe đi ngược chiều. Những chiếc xe đó là tiếng chuông cho mình thở. Tất cả những người đi ngược chiều với mình tự nhiên thành ra pháp khí, thành tiếng chuông chánh niệm. Đó là tiếng chuông chánh niệm của thầy tặng, mình phải trở về với hơi thở và thở cho có chánh niệm.

Sư chú Pháp Hiển còn trẻ lắm, nhưng sư chú chấp hành lời dạy của thầy rất nghiêm chỉnh. Không những sư chú trở về với hơi thở chánh niệm mà sư chú còn chạy chậm lại. Hai tuần qua sư chú đã thực tập rất nghiêm chỉnh. Tôi thấy pháp môn đó rất hay. Tôi muốn các thầy, các sư cô, sư chú, các vị Phật tử, mỗi khi lái xe đi xóm Thượng, đi xóm Hạ hay xóm Mới, đều thực hành theo phương pháp đó. Nếu không có xe đi ngược chiều, mà mình nhớ là mình không đang thở thì mình bắt đầu thở. Mình thở ít nhất là mười hơi rồi nhắc sư em, sư chị, sư anh cùng thở với mình. Mình phải nhắc cho khéo, đừng làm người ta bực mình. Mình có thể nhắc bằng một câu hỏi: “Chị đang làm gì đó?” Đó là bắt chước thầy. Nếu sư chị nói: “Chị đang ngồi trên xe” thì không được. Sư chị phải nói: “Chị đang thở.” Khi tu học mình phải khôn khéo, phải biết lợi dụng thời cơ, lợi dụng những cái đang xảy ra trong giây phút hiện tại để làm trợ duyên mà trở về với chánh niệm.

Trong kinh A Di Đà có nói: Bất cứ cái gì bên cõi A Di Đà đều có mục đích thức mình dậy để mình trở về với chánh niệm. Gió thổi qua những hàng cây làm phát ra những âm thanh vi diệu. Nếu có chánh niệm thì mình nghe thấy trong tiếng gió những lời thuyết giảng Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo phần. Khi chim ca hát trên cành, nếu có chánh niệm, mình cũng nghe được lời thuyết pháp trong đó. Tiếng gió, tiếng chim, tiếng lá cây bên cõi Tịnh Độ đều có công năng của một tiếng chuông để thức tỉnh mình, để mình chế tác được năng lượng chánh niệm. Chánh niệm đưa tới chánh định, và niệm-định đưa tới tuệ, tuệ giác giúp mình chuyển hóa những u mê, những giận hờn, sầu khổ.

Tôi chúc quí vị thực tập cho giỏi từ bây giờ tới cuối năm, để sang năm mới ai cũng biết thực tập lái xe có chánh niệm và ngồi trên xe có chánh niệm. Chúng ta nương vào nhau để thực tập. Khi ấy thì giờ ngồi trên xe sẽ không phải là thì giờ uổng phí.

(Làng Mai)

Source: thuvienhoasen.

senan
TRÁI TIM MẶT TRỜI

Từ Chánh Niệm Ðến Thiền Quán

Thích Nhất Hạnh – Lá Bối in Lần Thứ Nhất, Paris 1982
Nhà xuất bản Văn Hóa Saigon tái bản 2006
.
Cuốn sách nhỏ này không phải đã được viết ra để phô bày kiến thức của tác giả vì kiến thức ấy không có gì đáng để được phô bày. Nó mong ước được là một người bạn hơn là một cuốn sách. Nó muốn được là người bạn để nhắc nhở và khích lệ người độc giả trên bước đường thiền quán. Trong xe buýt hoặc dưới métro, bạn có thể mang nó theo như mang theo một con chó con hoặc như một cây gậy trúc, hoặc một cái nón hay một chiếc khăn choàng. Nó có thể cho bạn một niềm vui nhỏ bất cứ lúc nào . Bạn có thể đọc năm bảy dòng rồi gấp nó lại, bỏ nó vào túi, để khi nào có hứng thì đem ra đọc thêm vài dòng khác…
.

LỜI MỞ ÐẦU CỦA TÁC GIẢ

Người tập thiền xưa nay vẫn biết nhìn bằng con mắt của mình và xử dụng ngôn ngữ của thế kỷ mình. Sở dĩ như vậy vì tuệ giác là một dòng sống linh động chứ không phải là một cổ vật được cất giữ ở viện bảo tàng. Bằng sự sống của chính mình, người thiền giả khơi nối được dòng tuệ giác và làm cho nó tuôn chảy về nhũng thế hệ tương lai. Công trình nối đuốc là công trình của tất cả chúng ta, tất cả những ai biết khai phá để mà đi tới. Cái thấy của chúng ta và ngôn ngữ của chúng ta không the tách rời ra khỏi thời đại trong đó chúng ta sống.

Ðã từ lâu Ðông Phương theo gót Tây Phương trên con đường văn minh kỹ thuật đến nỗi bỏ lửng công trình khơi mở và tiếp nối những truyền thống đạo học của mình. Trên thế giới, kỹ thuật vẫn còn là sức mạnh của kinh tế và chinh trị, nhưng khoa học ở tuyến đầu khám phá của nó đã bắt đầu hé thấy những gì mà đạo học Ðông Phương đã từng thực nghiệm từ lâu. Nếu qua cuộc khủng hoảng lớn lao nầy mà nhân loại còn sống sót được thì hố chia cách giữa khoa học và đạo học sẽ được lấp bằng và Ðông Tây sẽ cùng đi chung trên một con đường khám phá mói: đó là con đường khám phá chân tâm.

Ðã có sẵn hạt giống của nền văn hóa này, chúng ta hãy nhìn xa mà đóng góp ngay từ bây giờ bằng đời sống chính niệm hiện thực của chúng ta cho con đường đi lên đó.

Cuốn sách nhỏ này không phải đã được viết ra để phô bày kiến thức của tác giả vì kiến thức ấy không có gì đáng để được phô bày. Nó mong ước được là một người bạn hơn là một cuốn sách. Nó muốn được là người bạn để nhắc nhở và khích lệ người độc giả trên bước đường thiền quán. Trong xe buýt hoặc dưới métro, bạn có thể mang nó theo như mang theo một con chó con hoặc như một cây gậy trúc, hoặc một cái nón hay một chiếc khăn choàng. Nó có thể cho bạn một niềm vui nhỏ bất cứ lúc nào . Bạn có thể đọc năm bảy dòng rồi gấp nó lại, bỏ nó vào túi, để khi nào có hứng thì đem ra đọc thêm vài dòng khác.

Gặp vài đoạn hơi khó bạn cứ lướt qua để đọc đoạn kế kiếp. Chừng nào thật rỗi rảnh, bạn hãy trở lại những đoạn ấy. Bạn sẽ thấy những đoạn ấy không có gì là khó. Chương 5 tức là chương cuối, rất dễ đọc và rất quan trọng, bạn có thể đọc bất cứ lúc nào.

Bạn hãy soi sáng những đoạn trong cuốn sách bầng kinh nghiệm sống của bạn. Ðừng bị văn tự khuynh loát ; chế ngự được văn tự mói là bậc trượng phu.

Viết ở Rừng Othes, đầu mùa thu năm Tân Dậu.

Xin đọc tiếp :   Chương Một: Nắng Trên Lá Xanh   trong phần Mục Lục :

THẦN THÔNG TRONG CUỘC ĐỜI

Tác giả : Lê Sỹ Minh Tùng

Ngày xưa, đức Phật tọa thiền 49 ngày đêm dưới cội Bồ Đề đến khi sao mai mọc thì Ngài chứng Lục Thông và đắc Tam Minh trở thành bậc Vô thượng Bồ Đề cho nên Lục Thông (lục thần thông) là sáu diệu dụng vô ngại tự tại của Phật. Đó là:

1)Thần túc thông: Năng lực hiện thân tùy ý muốn tự tại vô ngại.

Dựa theo Luận Đại Tì Bà Sa thì có 3 thứ thần dụng:

Vận thân thần dụng: Thân bay lên hư không giống như chim bay, bay nhẹ nhàng như tiên.

Thắng giải thần dụng: Ở xa mà thấy như gần, nương vào năng lực này thì tuy thân ở thế giới Ta Bà mà tay với tới mặt trăng, mặt trời.

Ý thế thần dụng: Nhãn thức có thể lên tới những siêu việt vô biên thế giới.

Còn theo Luận Đại Trí Độ của ngài Long Thọ thì có 3 thứNhư ý:

Năng đáo: Thân bay đi được, giống như chim bay vô ngại. Dời xa lại gần, không đi mà đến. Biến mất nơi đây, xuất hiện nơi khác. Trong một niệm là đến nơi.

Chuyển biến: Lớn biến thành nhỏ, nhỏ biến thành lớn. Một biến thành nhiều, nhiều biến thành một cho nên mọi vật đều có thể chuyển biến.

Thánh như ý: Tức năng quán vật bất tịnh không đáng ưa thích của 6 trần là tịnh, quán vật thanh tịnh đáng ưa là bất tịnh. Pháp thánh như ý này chỉ Phật mới có.

2)Thiên nhĩ thông: Có thể nghe tất cả những ngôn ngữ, âm thanh, vui, sướng, khổ của chúng sinh trong 6 đường.

3)Thiên nhãn thông: Có thể thấy được tướng khổ,vui, sống, chết của chúng sinh trong 6 đường và thấy tất cả hình sắc, chủng loại trong thế gian không gì ngăn ngại.

4)Tha tâm thông: Có thể biết sự suy nghĩ của chúng sinh trong 6 đường.

5)Túc mạng thông: Có thể biết thọ mạng, việc làm của chính mình và chúng sinh trong 6 đường, từ trăm nghìn muôn kiếp.

6)Lậu tận trí chứng thông: Đoạn trừ hết Kiến Hoặc và Tư Hoặc trong 3 cõi, chẳng bị sự sinh tử trong 3 cõi trói buộc mà được sức thần thông lậu tận.

Tuy nói Lục Thông, nhưng ba pháp Thiên nhãn thông, Túc mạng thông và Lậu tận thông còn được gọi là Tam Minh.

Bây giờ hãy triển khai ý nghĩa của Lục Thông ở trên để có thể áp dụng vào trong đời sống của chúng ta.

Thần có nghĩa bất tư nghì, việc làm mà người thường không thể làm được. Thông có nghĩa là vô ngại, thông suốt tức là không còn ngăn ngại.

Một ý nghĩa của Thiên nhãn thông là khi mắt thấy biết thực tướng của vạn pháp là vô tướng nên trong cái thấy đó không có sự ngăn ngại bởi không gian và thời gian vì thế giới bây giờ trở thành một tức là nhất chân pháp giới.

Thế thì con người có thể đạt được Thiên Nhĩ Thông trong cuộc đời này chăng? Nếu chúng sinh dùng lỗ tai (thịt) để nghe thì chắc chắn sẽ bị ngăn ngại. Tại sao? Bởi vì khi tai nghe những âm thanh, tiếng nói không hài lòng khiến tâm bực bội, khó chịu. Ngược lại nghe những lời bùi tai thì say đắm. Thí dụ như vợ chồng, con cái bất ổn, thường hay cải vã, lời qua tiếng lại cũng vì tư tưởng khác đồng chuyển qua lời nói làm cho người nghe chịu không nổi, đâm ra bực tức, rồi sinh ra chửi bới, đánh đấm…cuối cùng dẫn nhau ra tòa ly dị…hoặc vào tù ra khám. Đó cũng tại vì chấp lời nói kia là thật nên bị ngăn ngại. Bây giờ nếu hiểu Phật pháp thì không chấp vào lời nói thị phi của người khác. Tại sao? Bởi vì trên thế gian này chỉ có ta mới thật sự hiểu rõ ta mà thôi, không một người nào khác có thể biết ta bằng ta được. Thí dụ một người chê ta là người xấu hoặc khen ta là người tốt thì họ chỉ dựa theo kiến giải và kinh nghiệm bản thân của họ mà so sánh,đánh giá người khác chớ làm sao họ biết ta bằng chính ta. Mình tốt bao nhiêu mình biết, mình xấu bao nhiêu thì cũng chính mình biết. Vì thế nếu mình là người xấu mà có người khen tặng mìnhmà mình nhận chẳng khác nào chính mình tự lừa dồi mình, sống trong ảo tưởng. Ngược lại nếu mình là người tốt, luôn nghĩ thiện, nói lời lành và làm việc thiện mà có ai chê ta thế này thế kia thì ta cứ mặc họ vì cuộc sống nhẹ nhàng, thánh thoát, an vui, tự tại thì chính ta đã có rồi đâu cần người đời trao tặng nữa. Nên nhớ những tiếng thị phi, những lời khen chê thì ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có chẳng khác nào thời tiết nóng lạnh bất thường. Do đó người biết tự chủ tâm mình là người không chạy theo khách trần phiền não cho nên nghe thì nghe tất cả mà như không nghe gì hết, trong ngoài tự tại, không còn ngăn ngại thì chính ta đã chứng được Thiên nhĩ thông rồi.

Cùng lý luận ấy, thấy thì cái gì cũng thấy, thấy tất cả mà như không thấy gì hết, tâm không dính mắc, không còn ngăn ngại là có Thiên nhãn thông. Kinh điển thường nói “Nhục nhãn ngại phi thông. Thiên nhãn thông phi ngại” nghĩa là nhìn thấy bằng mắt thịt thì sẽ bị ngăn ngại, không thông suốt tại vì tâm còn chấp. Ngược lại, dùng thiên nhãn tức là dùng mắt trí tuệ để quán xét thì tất cả sẽthông suốt, không còn ngăn ngại. Từ đó cuộc sống sẽ được an vui tự tại.

Các thông còn lại cũng y như vậy. Vì thế chúng sinh hằng ngày nên bồi dưỡng trí tuệ của mình bằng cách sống trong tĩnh thức,chánh niệm đểchứng từng món thông mà biến cuộc đời từ phiền não ưu bi trở thành thanh tịnh, thánh thoát, an vui, tự tại. Thí dụhằng ngày mắt vẫn thấy sắc như nhà to, xe đẹp, áo lụa, quần là…Nếu là người thường thì dễ bị nó lôi cuốn, nhận chìm, mê hoặc vào đó, nhưng đối với người có tư duy chánh niệm thì nhận thức được hiện tượng của vạn pháp là vô thường nên tâm họ không hề bị dính mắc. Họ quán rằng vạn pháp là không nghĩa là tất cả mọi vật thể trong thếgian này dù to lớn như mặt trời, mặt trăng hay nhỏ như hạt cát như vi trần đều do duyên khởi tác tạo mà thành chớ không vật nào tự nó sinh khởi hay tồn tại được cho nên vật thể là vô ngã, không có tự thể nên tuy là có, là thấy sờ sờ ở đó nhưng một ngày nào đó nó sẽ bị biến hóa, tiêu hoại nên gọi là không. Do đó, cái không của Phật giáo là không tham đắm, si mê, không chấp thủ chạy theo hình sắc sinh diệt chớ không phải dùng thần thông hay quán làm biến đi tất cả. Người có tưduy, chánh niệm khi thấy đóa hoa đẹp thì họ vẫn biết cái đẹp của hoa đấy chứ,nhưng họ quán rằng đóa hoa là do trùng trùng duyên khởi mà thành vì vậy đến tuần sauđóa hoa bắt đầu héo úa, tàn phai rồi trở thành phân bón cho nên nhìn đóa hoa thì họ cũng nhìn, cũng biết nó đẹp, nhưng không đắm nhiễm say mê, lúc nào cũng tự tại với sắc đẹp. Lấy đóa hoa làm tiêu chuẩn để nhìn tất cả những hình sắc khác trên thế gian này cho nên tuy mắt có nhìn các loại trân châu bảongọc quý báu, đẹp đẽ đến đâu thì nó cũng là loại vô thường hoại diệt. Ngược lại nếu nhìn theo con mắt của phàm nhân thì tham đắm, say mê rồi chấp thủ đem về làm của riêng cho mìnhđưa đến tranh chấp, chiến tranh giết hại lẫn nhau. Nói tóm lại, người biết đạo thấy đẹp thì cũng biết là đẹp, nhưng họ biết vật chất đó từ “Không” mà “Có” vì thế một ngày nào đó từ “Có” sẽ trở thành “Không” cho nên thấy tất cả vật chất nhưng không bị chúng lôi cuốn nhận chìm nên họ mới có an nhiên tự tại được. Đó chính là “Kiến sắc phi can sắc” vậy. Người học Phật không những thấy biết rõ ràng sự hoại diệt, vô thường của thế gian mà còn thấy rốt ráo sự trường tồn vĩnh cửu tức là tánh vô sanh vô diệt của vạn pháp nữa. Bởi vì lúc đóa hoa tàn úa thì từ cái diệt này bắtđầu cho sự sanh khác để tạo thành đóa hoa mới.Đó là hiện tượng quy về bản thể và bản thể duyên khởi thành ra hiện tượng cho nên không có cái gì là thật sinh hay cái gì là thật diệtnghĩa là sinh để rồi diệt, diệt rồi lại sinh, sinh sinh diệt diệt vô cùng vô tận nên sinh diệt, sống chết là chuyện thường, chẳng có gì quan trọng nên không còn lo sợ, buồn phiền. Chúng sinh khi thấy mình già yếu, bệnh tật thì đau khổ, lo âu, sợ sệt. Ngược lại, đối với người biết đạo thì sống chết là chuyện bình thường, tử sanh là trò dâu biển nằm trong chu kỳ bất biến tùy duyên rồi tùy duyên bất biến thế thôi. Vì vậy với Phật nhãn của chư Phật thì nhìn vạn pháp sanh mà không thật sanh và diệt nhưng không phải là mất hẳn nghĩa là sinh để rồi diệt và diệt rồiđể lại sanh, sinh sinh diệt diệt vô cùng vô tận.

Vào những lúc gần đây ở Hoa Kỳ có ông Harold Camping, a Christian Radio Broadcaster, một nhà truyền giáo Tin lành đã tiên đoán ngày tận thế của nhân loại dựa theo Thánh kinh mà ông nghiên cứu. Lần thứ nhất, ông tiênđoán thế gian sẽ bị hủy diệt vào ngày 7 tháng 9 năm 1994. Sau đó ông lại tiênđoán ngày 21 tháng 5 năm 1988. Gần đây nhất ông tiên đoán ngày tận thế là 21 tháng 5 năm 2011. Tháng 5 năm 2011 đến rồi đi, nhân loại vẫn sống sờ sờ thì bây giờ ông lại tiên đoán lần chót là ngày 21 tháng 10 năm 2011. Ông và nhóm tín đồcủa ông bỏ ra rất nhiều tiền để quảng bá, thông tin đến đại chúng về sự tiênđoán thần diệu của ông. Năm 1998, nhà đạo diễn Micheal Bay đã sản xuất một cuốn phim tựa đề là “Armageddon” viết bởi John Wiggins thuộc loại ảo tưởng (Sci-Fi) nói về một vẫn thạch có kích thước rất lớn như tiểu bang Texas. Trung tâm NASA chỉ có 18 ngày để tìm phương thức giải quyết vấn đề bằng không thì vẫn thạch sẽ đâm thẳng vào trái đất rồi nổ tung kích động theo hàng loạt các đợt động đất, núi lửa quét sạch con người giống như thời tiền sử khoảng 70 triệu năm về trước đã quét sạch giống Khủng Long. NASA bó tay đầu hàng và sau cùng bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ quyết định phải dùng đầuđạn nguyên tử để làm nổ tung cái vẫn thạch này ở ngoài không gian. Nhưng người có thể thực hiện sứ mạng cực kỳ khó khăn này không phải là những phi hành gia, những nhà khoa học nổi tiếng mà lại là một người chuyên khoan các dàn dầu hỏa tên là Harry Stamper. Câu chuyện này chẳng qua là Hollywood dựa vào sự kiện ghi chép trong Thánh kinh có tên là “Armageddon” tức là ngày tận thế. Ngày đó thế giới sẽ trở thành đỏ lửa, kinh hoàng và sau đó Chúa Jesus sẽ sống lại. Ngày 21 tháng 10 năm 2011 một lần nữa đến rồi lại đi và chúng ta vẫn sống bình yên, vẫn sinh hoạt như thường. Do đó kết quả tiên đoán dựa vào Thánh kinh của ông Camping là 0-4 nghĩa là trật lất 100%, chỉ là nói nhăng nói cuội, gây hoang mang cho dư luận.Nhóm này có khuynh hướng gieo vào trong đầu tín đồ của họ niềm lo âu sợ hãi cho nên Thượng đế sẽ là cứu cánh để nương tựa. Vì thế cánh cửa vào Thiên đường là đức tin nơi Thượng đế trong khi đó con đường vào Cực Lạc Niết Bàn của đạo Phật là trí tuệ của chính mình.Chẳng phải kinh Kim Cang dạy rằng trí tuệ Ba la mật là mẹ của ba đời chư Phật đó sao? Đạo Phật xiễn dương tinh thần khách quan bình đẳng mà tuyệt đối không có một tôn giáo nào trên thế giới từ xưa đến nay trong lịch sử nhân loại có được. Kinh Pháp Hoa khẳngđịnh rằng tôi là Phật, bạn là Phật, tất cả mọi người sẽ là Phật chớ đâu có dạy thành con chiên?Đạo Phật dạy chúng sinh hãy sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, sống an lạc, sống có lợi cho mình, cho người và cho tất cả muôn loài.

Phật giáo chủ trương rằng tất cả vạn pháp kể cả sự sống chết chỉ là hiện tượng duyên sinh nghĩa là duyên kết thì sống, duyên tan thì chết. Nhưng chết không phải là mất hẳn vì khi duyên mới kết tạo thì sẽ tái sinh trở lại chớ đâu có mất cái gì mà phải lo sợ cho nên người biết đạo thì sống thảnh thơi, tự tại; chết nhẹ nhàng thanh thoát tức là sinh thuận, tử an vậy. Thêm nửa, Phật giáo phủ nhận hoàn toàn chủthuyết Thượng đế vì nếu Thượng đế sinh ra ta thì ai sinh ra Thượng đế? Cho nên chính ta mới là Thượng đế của chính mình, chính ta mới có đủ khả năng và năng lực làm chủ cuộc đời của mình và chỉ có ta mới thay đổi được định mệnh của mình chớkhông ai khác. Đó là ai ăn người ấy no, ai uống người đó hết khát cho nên một người ăn người khác không thể no được. Vì thế Phật giáo không dạy chúng sinh hướng tâm ra ngoài cầu tha lực mà phải quay về nội tâm của chính mình để làm chủ nó thì cuộc đời sẽ vô cùng an vui, tự tại.

Tóm lại thần thông được hiểu là bất tư nghì, vô ngại tự tại. Vô ngại tự tại đối với những việc khó tự tại để vượt qua những thử thách mà người thường không thể nào tự tại được. Vì vậyngười có thần thông là người mà lục căn được sức tự tại vô ngại một cách bất tư nghì (không thể nói được) mà đối với một người thường không nghĩ đến được, không thực hành được, không thể chiến thắng được những dục vọng làm ô nhiễm tâm ý của mình. Đó là mắt đối với sắc, tai đối âm thanh, lưỡi đối với mùi vị, mũi đối với hương vị,thân đối với cảm xúc và ý đối với pháp trần mà vẫn được tự tại vô ngại một cách bất tư nghì thì người đó chứng được lục thông.

Đối với Phật giáo, việc gì đến sẽ đến, khỏi trông chờ mong đợi chi hết cũng như khi đào ao xong có nước trong thì ánh trăng hiện xuống hay mây tan thì trời chiếu sáng vậy thôi. Vì thế nếu hành giả tu theo chánh pháp mà tâm cứ mong cầu đạt được các thứthần thông thì những tham vọng này sẽ che lấp tâm thanh tịnh của mình. Cái tâm mong cầu này gọi là Vũ tâm trong sáu mươi tướng vọng tâm sai biệt của phàm phu (Lục Thập Tâm).

Ngày nay vớiđà phát triển của văn minh khoa học, con người có thể trực tiếp nói chuyện với người thân tận bên kia quảđịa cầu. Xa hơn nữa, con người có thể lên cung trăng thăm chị Hằng, chú Cuội. Có những chiếc tàu ngầm chạy bằng nguyên tử lực có thể lặn sâu ở dưới lòng đại dương cả năm trời. Thế thì thần thông không nhất thiết phải là thấy xa, nghe rộng hay là bay cao nhảy xa giống như ảo thuật mà phải được hiểu là khả năng đoạn trừ mọi tham đắm, si mê, không bị lôi cuốn nhận chìm trong ái dục và dĩ nhiên lúc nào cũng sống trong tĩnh thức chánh niệm tức là luôn làm chủtâm mình. Đây mới chính là những thứ tự tại vô ngại, bất khả tư nghì mà người thường không thể làm được.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Lê Sỹ Minh Tùng

Source: thuvienhoasen.

White Water Lily

Chuyển đến trang: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15,