Dinh Dưỡng

Recent Pages:  1,  2, 3, 4, 5, 6, 7,

Trái cây: Biết cách ăn mới bổ!

Beautiful! (2)

Khi yêu cầu ăn gì cho khoẻ đang ngày càng quan trọng. Và trái cây trở thành một phần thiết yếu của những bữa ăn nhưng để tận dụng được tối đa các ích lợi của nó, cần phải biết cách ăn cho đúng, khoa học.

Nên ăn trái cây vừa chín tới hay chọn loại đã chín muồi?

Đa số các loại trái cây sẽ đạt được hương vị ngon nhất khi chín muồi (nhưng chưa chín rục), nhất là những loại có mủ như măng cụt, mãng cầu, mít, sầu riêng… Tuy nhiên nếu trái cây đã chín rục, thâm đen hay lên men rượu rồi thì thành phần chất dinh dưỡng có thể đã thay đổi, chỉ nên ăn khi màu, mùi, vị còn tốt.

Trái cây úng thúi, vị đắng… không nên dùng. Người đái tháo đường chỉ nên ăn chuối còn hơi sống, xoài còn hơi xanh… để hạn chế tăng đường huyết.

Gọt vỏ, cắt miếng sẵn để vào tủ lạnh ăn dần hay vừa gọt vừa ăn?

Các loại vitamin bổ dưỡng trong trái cây như vitamin C, folate… có thể bị mất dần dưới tác dụng của ánh sáng, không khí, nhiệt độ… Quá trình mất chất này càng tăng nhanh hơn nếu vỏ ngoài của trái cây bị phá vỡ hoặc bề mặt tiếp xúc không khí của trái cây tăng lên khi cắt nhỏ.

Vì vậy cần lựa chọn trái cây tươi và nên ăn sớm, gọt vỏ, cắt miếng xong ăn ngay để nhận được chất dinh dưỡng nhiều nhất. Gọt vỏ, cắt miếng trái cây để lâu sẽ làm cho quá trình oxy hóa và nhiễm khuẩn trái cây nhanh và dễ dàng hơn.

Ăn trái cây tráng miệng sau bữa ăn cho sạch răng?

Trái cây có thể dùng làm bữa ăn phụ hoặc ăn kèm trong bữa chính. Sau khi ăn trái cây thường có cảm giác răng rất sạch. Đó là do khi ăn nhai, chất axít trong trái cây làm tăng tiết nước bọt và làm sạch các bợn răng. Vì vậy mà có thói quen lâu đời là tráng miệng trái cây sau bữa ăn. Gần đây, xu hướng ăn trái cây trở nên đa dạng hơn. Một số nhà khoa học Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và cho kết quả ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hoá hiệu quả.

Trong trái cây có chứa chất đường, cơ thể dễ dàng hấp thu làm tăng đường huyết chống đói, chất xơ trong trái cây cũng tạo nên cảm giác no kéo dài hơn, đó chính là bí quyết giảm béo khi dùng trái cây trước bữa ăn.

Nếu ăn cơm no rồi ăn thêm trái cây ngọt thì lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh, không có lợi cho sức khoẻ, nhất là người bị đái tháo đường.

Cần lựa chọn trái cây nào tốt để ăn?

Thật ra “mùa nào thức nấy” là cách lựa chọn sáng suốt mà ông bà ta đã dạy. Ngoài những loại trái cây có quanh năm, mỗi mùa chúng ta lại được thưởng thức thêm những trái cây đặc biệt nữa. Tất cả các loại trái cây đều có lợi cho sức khoẻ nhưng cũng nên lựa chọn và phối hợp giữa các loại một cách hợp lý để tận dụng được tối đa các ưu điểm của chúng.

Chẳng hạn vào ngày hè nóng nực, mồ hôi ra nhiều mang theo một lượng nước và một lượng chất khoáng đáng kể, nên ăn loại trái cây nào vừa để giải khát vừa giúp bổ sung chất dinh dưỡng như cam, bưởi… Không cứ phải trái cây đắt tiền thì mới bổ dưỡng. Nên đa dạng, thay đổi các loại trái cây khác nhau để cân đối các chất dinh dưỡng cần cho cơ thể.

Uống cam vắt hay ăn cả múi cam tươi?

Uống nước cam sẽ nhận được các chất dinh dưỡng quan trọng trong trái cam như đường, vitamin các loại, nước giải nhiệt… nhưng sẽ thiếu đi lượng chất xơ cần thiết. Ăn cả múi cam sẽ bảo đảm được đủ chất dinh dưỡng đồng thời cung cấp chất xơ, rất có lợi cho tiêu hoá.

Chất xơ một phần được hấp thu vào máu, phần lớn còn lại không được tiêu hoá sẽ giúp đẩy ra khỏi cơ thể những chất thải bẩn và độc hại, giúp đi tiêu dễ dàng, tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh có lợi trong đường ruột phát triển, hạn chế vi trùng gây hại và phòng tránh một số bệnh đường ruột, nhất là ung thư ruột.

Chất xơ còn có khả năng quét bỏ những cholesterol thừa trong ống tiêu hoá, làm giảm nguy cơ rối loạn mỡ máu và bệnh tim mạch. Người đái tháo đường ăn trái cây thì nên ăn nguyên xác, chất xơ sẽ giúp làm chậm tăng đường huyết, nên hạn chế vắt nước hay xay sinh tố trái cây.

Theo BS CK1 Đào Thị Yến Thuỷ

Công dụng tuyệt vời từ đậu phụ

Khi được phối kết hợp với một số gia vị và thực phẩm, đậu phụ sẽ có công dụng điều trị một số bệnh.
Đậu phụ là sản phẩm được làm ra từ đậu tương hay còn gọi là đỗ tương, đậu nành, rất giàu các dưỡng chất và nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể như sắt, canxi, magiê… Khi được phối kết hợp với một số gia vị và thực phẩm, đậu phụ sẽ có công dụng điều trị một số bệnh.
Các chế phẩm của đậu tương mang tới 90 – 95% protein, đây là nguồn protein thực vật có giá trị cao cung cấp cho con người. Trong hạt đậu còn chứa sắt, canxi, phốt pho và các thành phần chất xơ tốt cho tiêu hóa. Vitamin trong đậu tương có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B1, B2, B6, ngoài ra còn có vitamin E, acid


Mỗi ngày ăn 2 miếng đậu phụ có thể thoả mãn nhu cầu canxi của cả ngày của 1 người.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, đậu tương chứa nhiều isoflavone và được coi là thực phẩm gia tăng nữ tính giúp bảo vệ phụ nữ giảm chứng bệnh như tim mạch, rối loạn tiền mãn kinh, ung thư và loãng xương nên đậu tương còn được mệnh danh là “thần dược” của phụ nữ. Nhiều nghiên cứu lâm sàng trên người và động vật đã trả lời chính xác điều này.

Người ta tính toán rằng, mỗi ngày ăn 2 miếng đậu phụ có thể thoả mãn nhu cầu canxi của cả ngày của 1 người. Ăn đậu phụ thường xuyên còn có tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, thanh nhiệt, giải khát, làm sạch ruột và dạ dày, có lợi cho người thể chất nhiệt nóng, miệng hôi, hay khát hoặc người vừa mắc các chứng bệnh do nhiệt nóng.
Y học hiện đại cũng chứng minh, ngoài công dụng tăng cường dưỡng chất, hỗ trợ tiêu hoá, tăng cảm giác muốn ăn, đậu phụ còn rất có lợi cho sự phát triển của răng và hệ xương; giúp tăng cường hàm lượng sắt trong quá trình tạo máu. Không chỉ vậy, đậu phụ không chứa cholesterol, nên cũng là thực phẩm rất tốt cho những người mắc bệnh huyết áp và tim mạch.
Ngoài ra, với hàm lượng estrogen thực vật phong phú, đậu phụ còn có tác dụng ngăn ngừa chứng loãng xương rất hiệu quả.
Để tham khảo và ứng dụng, dưới đây xin gợi ý cách dùng đậu phụ để trị một số bệnh thường gặp.

* Trị cảm cúm, trúng gió: Dùng 50g đậu phụ với 10 – 15g chao đậu và 5 nhánh hành lá nấu sôi. Ăn nóng, trùm chăn để ra mồ hôi giải cảm.

* Trị bệnh viêm khí quản: Lấy 500g đậu phụ, 60g đường mạch nha, với 1 ly nước ép dứa tươi. Đem đun sôi, sau đó ăn và uống cả nước, ngày 1 – 2 lần.

* Trị đờm suyễn: Chuẩn bị 500g đậu phụ, mỗi miếng đều khoét rỗng bên trong để vừa 10g đường đỏ. Sau đó hấp cách thuỷ 25 phút, rồi ăn liền trong 1 lần. Dùng liên tục 2 – 4 ngày.

* Trị tì vị suy hàn: Lấy 50g thịt dê nấu chín,rồi cho thêm 200g đậu phụ, 15g gừng tươi, nêm gia vị, dùng như món ăn. Cần dùng một tuần.

* Trị loét lở khoang miệng: Nấu chín 100g đậu phụvới 100g bí đao, và 10g lá sơn trà. Ngàyăn 1 – 2 lần.

* Chữa thiếu sữa sau sinh: Cho 150g đậu phụvà 50g đường đỏ đun sôi với lượng nước vừađủ. Đợi khi đường đỏ tan hết, cho thêm 50g rượu gạo, đun sôi thì ăn. Dùng mỗi ngày 1 lần, liên tục trong 5 ngày.

* Trị khí hư trắng ở nữ giới (bạch đới): Giã nát 10 hạt bạch quả (bỏ tâm, bỏ vỏ), hoà vào 1 bát nước đậu phụ đã xay rồi cho vào chung chưng cách thuỷ. Mỗi ngày uống 1 lần, dùng liên tục trong 3 – 5 ngày.

* Trị sốt cao không giảm ở trẻ nhỏ: Nấu 500g đậu phụ với 250g dưa chuột thành canh, uống thay nước cho tới khi hạ sốt.

* Trị đại tiểu tiện ra máu: Rang khô bã đậu phụ, tán thành bột, hoà cùng nước đường đỏ uống ngày 2 lần, mỗi lần 3 – 6g.

* Ngăn ngừa chứng loãng xương: Theo các nhà khoa học đã và đang chứng minh được nhiều lợi ích của sản phẩm này, như Isoflavones trong đậu tương có thể ngăn ngừa chứng loãng xương hoặc xốp xương. Isoflavones trong đậu tương có hiệu quả duy trì những tế bào xương thêm vững chắc, có khả năng khống chế các chứng tiền mãn kinh. Do đó hàng ngày ăn từ 1 – 2 thanh đậu phụ sẽ giúp ích cho phụ nữ từ độ tuổi trên 30.

Theo Nhịp cầu thầy thuốc

 PHÒNG NGỪA BỆNH UNG THƯ
BẰNG THỰC PHẨM RAU ĐẬU CỦ QUẢ

Tâm Diệu biên soạn

Các nhà khoa học cho rằng ăn uống thiếu hợp lý là con đường nhanh nhất dẫn con người đến bệnh ung thư vì nó chiếm tới khoảng 40% – 60% nguyên nhân mắc bệnh. Ăn uống như thế nào là hợp lý? Đó là ăn nhiều thực phẩm rau đậu củ quả, cân bằng chế độ dinh dưỡng, hạn chế chất béo, chất thịt và thực phẩm ít chất xơ.

GIỚI THIỆU

Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Viện Đại Học California, Berkeley, là khoa học gia đầu tiên khám phá ra sự có mặt của free radical (gốc tự do) trong cơ thể con người với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào. Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở môi trường ngoài cơ thể.

FREE RADICALS LÀ GÌ

Free Radicals là những độc tố (toxic oxygen molecules) có cấu trúc hóa học không ổn định và rất dễ gây phản ứng, vì ở lớp ngoài của nó có một điện tử đơn độc, luôn luôn đi tấn công các phân tử kế cận để cặp đôi với một điện tử khác, do đó phát sinh ra phản ứng hóa học “ốc xy hóa”, và các phân tử bị tấn công lại biến thành gốc tự do khác, sinh ra phản ứng dây chuyền. Thêm vào đó, free radicals còn tấn công các enzyme và các protein của tế bào, gây tổn thương DNA. Các họat động rối loạn này của gốc tự do làm cho các tế bào suy yếu, do đó khả năng chuyển hóa năng lượng suy giảm và cuối cùng sinh ra bệnh. Tính phá hoại của gốc tự do đối với toàn bộ các thành tố tế bào, đóng vai trò chủ yếu trong quá trình suy yếu, sinh bệnh và lão hóa con người.

FREE RADICALS TỪ ĐÂU PHÁT SANH

Free Radicals được tạo ra bằng nhiều cách, từ trong cơ thể và từ môi trường bên ngoài. Nó có thể là sản phẩm của khói thuốc lá, khói xe, không khí ô nhiễm, tia nắng mặt trời, tia quang tuyến x-rays, sự căng thẳng tâm thần (stress), mệt mỏi, thực phẩm có chất mầu tổng hợp, thịt cá nướng cháy, dầu mỡ chiên rán nhiều lần, nước có nhiều chlorine và phó sản của tiến trình chuyển hóa năng lượng (by-product of our metabolism) trong cơ thể chúng ta.

PHYTOCHEMICALS

May mắn thay, thiên nhiên đã cho chúng ta một nhóm hóa chất có chứa trong rau, trái cây, củ và đậu hạt, có khả năng phòng vệ cho cơ thể chúng ta tránh được nhiều thứ bệnh trong đó có bệnh ung thư và tim mạch và làm chậm tiến trình lão hóa. Đó là chất phytochemicals có khả năng chống oxy hóa (beta-caroten, lycopen, lutein, vitamin C, vitamin E).

Phytochemical (còn gọi là phytonutrient) là những chất hóa học tự nhiên có sẵn trong các loại thực vật, nhằm giúp cho chúng có mầu sắc, mùi vị, và bảo vệ cho chính chúng tránh khỏi sự ác nghiệt của thời tiết và các chứng bệnh. Đối với con người, phần lớn phytochemicals hoạt động chống lại sự ốc xy hóa (antioxidants), bảo vệ các mô tế bào và các bộ phận cơ thể chúng ta tránh bị tàn phá bởi gốc tự do.

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Các nghiên cứu khoa học cho biết, phytochemicals hiện diện trong mọi giai đoạn của tiến trình phát triển ung thư. Một số hoạt động ngay ở giai đoạn đầu tiên bằng cách ngăn không cho enzyme kích thích các genes ung thư hoặc phòng vệ không cho một số chất thành lập các mầm gây ung thư. Một số khác ngăn cản không cho các mầm ung thư đã phát sinh phá hoại các mô tế bào, các bô phận cơ thể, hay giúp cơ thể sản xuất các enzymes cần thiết để phá hủy các mầm ung thư. Phytochemicals cũng giúp cơ thể chống lại các bệnh liên hệ đến tim mạch. Một vài loại phytochemicals có khả năng làm giảm áp huyết máu và lượng cholesterol trong máu, cũng như ngăn không cho ốc xy hóa chất cholesterol xấu LDL, ngăn ngừa sự hư hại hay tắc nghẽn động mạch.

Trong thập niên 1970s, Lee Wattenberg, PhD, của trường đại học University of Minnesota, đã khám phá những con chuột bạch được nuôi sống bằng broccoli, Brussels sprouts, và các loại rau thuộc họ bắp cải (cabbage family) đã có tỷ lệ mắc bệnh ung thư thấp hơn nhóm những con chuột bạch khác. Cũng tương tự, các nhà khoa học tại John Hopkins University đã tìm thấy những con vật ăn rau giảm 90 phần trăm bệnh ung thư sau khi chúng được cho nhiễm ung thư. Cũng vậy, trong những năm 1970s, các khoa học gia người Đức đã khám phá ra rằng những người Nhật tiêu thụ đậu hũ và các sản phẩm biến chế từ đậu nành, mà trong đó có chất genistein, đã có tỷ lệ thấp bị bệnh ung thư so với chế độ ăn uống không có đậu hũ của người Tây phương.

Các chất phytochemicals tìm thấy đã được các nhà khoa học đặt tên và phân thành bốn nhóm: (1) Nhóm thanh lọc độc tố: Giúp tế bào nhận diện, phá hủy và thải hồi các chất độc trong cơ thể. Các độc tố này do nguồn thức ăn (các thứ phân bón, thuốc trừ sâu, chất thải thẩm thấu…), do nước uống, do khói thuốc, và do không khí ô nhiễm. Nhóm này bao gồm limonenes trong cam, chanh, bưởi, isothiocynates trong họ rau cải, ally sulfides trong tỏi, hành, hẹ. (2) Nhóm chống ốc xy hóa: là những đội quân tác chiến chống lại sự gây rối loạn của các gốc tự do, không cho chúng có cơ hội kích thích, tác động các mầm ung thư nảy sinh. Nhóm này bao gồm carotenoids trong cà rốt, cà chua, bí ngô, khoai lang, lutein trong các lá rau có mầu xanh đậm, lycopen trong cà chua. (3) Nhóm điều hòa tế bào: kiểm soát sự phát triển các tế bào nảy u (tumor), ngăn cản không cho chúng tăng trưởng. Thí dụ như genistein trong đậu nành. (4) Nhóm điều hòa kích thích tố:giúp điều hòa hệ sản xuất kích thích tố, ngăn cản không cho sản xuất khi lượng lên cao hơn bình thường và tăng sản xuất khi lượng xuống thấp. Thí dụ nhưisoflavones trong đậu nành và indoles trong nhóm rau cải cruciferous vegetables (các rau thuộc họ hoa thập tự như cải bắp, súp lơ, cải xoong, cải bruxen, cải xoắn). Dưới đây là một sốphytochemicals chính:

Allium compounds (trong hành và tỏi): Một nghiên cứu rộng lớn với 41,000 phụ nữ, được biết đến với tên là Iowa Women’s Health Study đã tìm thấy một chế độ ăn uống bao gồm rau, trái cây và tỏi đã giảm mức lâm bệnh ung thư kết tràng(colon cancer) đến 35 phần trăm. Một nghiên cứu khác ở thành phố Quảng Đông, Trung Hoa cho biết những người ăn hành và tỏi thường xuyên giảm mức lâm bệnh ung thư dạ dầy đến 40 phần trăm.

Lycopenes(trong cà chua và những rau quả có mầu đỏ và mầu da cam): Một nghiên cứu của viện y tế Ý Đại Lợi với 5.500 người, đã tìm thấy ăn cà chua là phương pháp hữu hiệu nhất phòng ngừa các bệnh ung thư, nhất là ung thư nhiếp hộ tuyến. Những người ăn cà chua ít nhất 7 lần trong một tuần đã giảm 50 phần trăm mức nguy hiểm lâm bệnh ung thư so với những người chỉ ăn có một lần trong một tuần. Những nghiên cứu khác cũng cho những kết quảtương tự. Một nghiên cứu kéo dài sáu năm tại viện đại học Harvard Medical School, với 48.000 đàn ông, tuổi từ 40 đến 75, đã cho biết những người ăn cà chua từ bốn đến bẩy lần trong một tuần đã giảm thiểu mức độ lâm bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến đến 22 phần trăm và những người ăn nhiều hơn mười lần một tuần giảm đến 35 phần trăm.

Beta carotene(trong các trái cây mầu đỏ, mầu da cam và rau mầu xanh đậm): Nhiều nghiên cứu khoa học cho biết tiêu thụ nhiều loại rau có chứa chất beta carotene này, đã giảm thiểu mức độ lâm bệnh tim mạch đến 33 phần trăm.

Lutein and zeaxanthin (chất carotenes trong rau mầu xanh đậm): Một nghiên cứu gần đây đã thấy những người ăn các loại rau xanh, như spinach và collards, ít nhất năm lần trong một tuần đã giảm mức độ nguy hiểm của chứng bệnh mờ võng mạc của mắt đến 50 phần trăm, so sánh với những người ăn ít hay không ăn. Hai chất carotenoids, lutein and zeaxanthin, có tác dụng bảo vệ võng mạc mắt. The National Health and Nutrition Examination Survey tìm thấy ở những người ăn nhiều rau và trái cây cũng có kết quả tương tự.

Indole tìm thấy trong bắp cải, có tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú. Hợp chất saponin trong các loại hạt ảnh hưởngđến quá trình tái tạo DNA, do đó ngăn cản sự tăng sinh của các tế bào ung thư.Capsaicin có trong ớt bảo vệ được DNA từ sự tấn công của các tác nhân gây ung thư.

Genistein(trong đậu nành, đậu xanh và giá alfalfa sprouts): Nhiều nghiên cứu cho thấyđậu nành có chứa nhiều chất có khả năng chống ung thư rất cao, bao gồm các hóa chất phytates, protease inhibitors, phytosterols, saponins and isoflavonoids. Các nghiên cứu khoa học cho biết tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành đã có tác dụng giảm bệnh ung thư vú và ung thưnhiếp hộ tuyến ở Nhật Bản.

Ở Trung Hoa vùng dân số tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành có tỷ lệ bị bệnh ung thư vú, bao tử, kết tràng, và phổi ít hơn 50 phần trăm vùng dân số ăn ít hay không ăn. Theo nghiên cứu của Viện Ung thư Thượng Hải, Trung Quốc: Trong 1.700 phụ nữ ở độ tuổi 30 – 69 được nghiên cứu, một nửa được chẩn đoán là bị ung thư tử cung, số còn lại hoàn toàn khỏe mạnh. Sau 5 năm nghiên cứu, vềmức ăn thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành của số người này, các chuyên gia nhận thấy, nhóm bị bệnh ăn ít đậu nành hơn nhóm còn lại.

Một công trình nghiên cứu kéo dài 10 năm của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Ung thư Tokyo,Japan, với 25.000 phụ nữ trong độ tuổi từ 40 – 69 trên toàn nước Nhật. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm phụ nữ có lượng genistein cao thường ít bị ung thư vú hơn (tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn 3 lần) so với nhóm phụ nữcó lượng genistein thấp.

Sữa đậu nành đã được chứng minh là có tác dụng tích cực đối với hầu hết các căn bệnh ung thư thường gặp ởphụ nữ như ung thư vú, ung thư màng tử cung, ung thư buồng trứng hay ung thư dạdày. Chuyên gia dinh dưỡng Justine Gayer (Hoa Kỳ) cho biết, sữa đậu nành không chỉ có tác dụng tốt với các chị em phụ nữ mà còn tốt đối với cả nam giới trong việc phòng ngừa bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

Được biết thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành như đậu hũ và sữa đậu nành rất giầu chất isoflavones, genistein và diadzein. Những chất isoflavonoids này ngăn cản sự phát triển các mầm mống ung thư.

KẾT LUẬN

Tóm lại, các nhà nghiên cứu khoa học ngày nay đã xác nhận vai trò của phytochemicals trong việc gìn giữ sức khỏe. Vậy chúng ta ăn uống thế nào để có đủ các chất “phytochemicals”?Các thực phẩm chứa “phytochemicals” mà chúng tôi liệt kê trên, thường nên là một phần của bữa ăn hàng ngày. Có thể nói hầu hết thực phẩm gốc thực vật đều có chứa “phytochemicals”. Cách dễ nhất để có thể cung cấp nhiều chất“phytochemicals” là ăn nhiều quả (cam, chanh, bưởi, dâu tây, nho) và các loại rau (bông cải, bắp cải, cà rốt, bông cải xanh broccoli, cải xoắn, spinach...) mỗi ngày. Rau quả cũng chứa nhiều vitamin, chất khoáng, chất xơ và rất ít chất béo bão hòa (là chất béo loại không tốtđối với sức khoẻ).

Riêng đối với phụ nữ nên ăn thường xuyên 7 loại thực phẩm sau để ngăn ngừa ung thư vú và ung thư cổ tử cung: (1) Rong biển là thực phẩm hàng đầu phòng chống ung thư vú. Rong biển không chỉ giàu vitamin E và chất xơ, mà còn phong phú về hàm lượng iodine. Các nhà khoa học tin rằng thiếu hụt iodine là một trong những yếu tố nguy cơ của ung thư vú, do đó, ăn rong biển có thể giúp ngăn ngừa ung thư vú. (2) Đậu hũ (đậu phụ) và sữa đậu nành (đậu tương), có chứa genistein, isoflavone và lignans có khả năng ngăn chặn sự phát triển khối u, ức chế sự phát triển của ung thư cổ tử cung, ngăn chặn di căn và chặn lưu lượng máu đến các khối u không cho nó phát triển thêm. (3) Hạt Lanh (Flaxeed) và hạt Chia, các nhà khoa học gọi thứ này là “nhà máy siêu thực phẩm mạnh mẽ nhất” của cơ thể trong công cuộc chống lại ung thư vú. Nghiên cứu tại trường đại học University of Toronto, Canada, cho biết các khối u đã bị thu hẹp sau khi cho thử nghiệm với lignans của Flaxeed. (4) Củ nghệ là thực phẩm phổ biến trong ẩm thực Ấn Độ, nghệ là một chất chống viêm mạnh hơn gấp 300 lần với thành phần chủ yếu là vitamin E và C. Ngoài ra nghệ còn có tác dụng cắt giảm một nửa nguy cơ ung thư vú nếu như được sử dụng đều đặn hàng ngày trong nhiều năm. Nó cũng kích thích men gan, giúp cho cơ thể loại bỏ các độc tốestrogen xấu. (5) Bông cải xanh, súp lơ, cải bắp, rau cải, cải xoăn, cải Brussels giúp làm chậm sự phát triển của các estrogen xấu – nguyên nhân trực tiếp gây sự phát triển các khối u trong tếbào. (6) Cà chua cũng là thực phẩm phòng ngừa ung thư cổ tử cung tốt. (7) Dầu ôliu rất tốt cho sức khỏe, trong đó đáng kể đến việc ngăn chặn một gene trong DNA tham gia vào sự phát triển khối u của cơ thể.

Tâm Diệu biên soạn (10-2012)

Source: thuvienhoasen

  1. GIẢI PHÁP CHO NGƯỜI CAO HUYẾT ÁP MẤT NGỦ

    Người mắc chứng huyết áp cao cần có sức khỏe và tinh thần tốt mới có thể khống chế tốt huyết áp, vì vậy, nếu người cao huyết áp bị mất ngủ thì không được xem nhẹ.
    Người mắc bệnh cao huyết áp cần có giấc ngủ đầy đủ thì mới khống chế được hữu hiệu huyết áp, nhưng không ít người mắc bệnh này đều kèm theo chứng mất ngủ, như thế có khả năng làm cho huyết áp tăng cao.
    .
    Vậy người cao huyết áp nên làm thế nào để có được một giấc ngủ ngon?
    .
    Nếu sử dụng thuốc ngủ đương nhiên có tác dụng chữa trị chứng mất ngủ, nhưng tác dụng phụ của nó cũng rất lớn, có nghiên cứu phát hiện, phương pháp tốt nhất để đối phó với mất ngủ tức là thực liệu, bao gồm những phương pháp sau:
    .
    1. Cho một thìa giấm vào một cốc nước lọc để nguội và uống,có thể trợ giúp chìm vào giấc ngủ và ngủ ngon.
    .
    2. Người mất ngủ thường xuyên có thể dùng hạt sen, long nhãn, bách hợp kết hợp với cao lương ngũ cốc ( ngô) để hầm cháo, đây là một phương pháp thực liệu giúp người cao huyết áp chìm vào giấc ngủ rất hiệu quả.
    .
    .
    3. Người huyết áp cao máu hư có thể thường xuyên ăn tinh bột củ sen, hoặc có thể luộc củ sen lên bằng lửa nhỏ sau đó trộn với một lượng mật ong thích hợp để ăn. Cũng có thể dùng 10g long nhãn nhục, táo đỏ 5 quả, 1 quả trứng gà hấp, sau đó ăn cùng với nhau, mỗi ngày 1 lần.
    .
    4. Người có thần kinh yếu có thể lấy 1 thìa tương rau diếp bùn hòa vào trong một cốc nước. Do loại tương bọt trắng này có chức năng tịnh tâm, an thần, vì vậy có hiệu quả nhất định trong việc trợ giúp giấc ngủ
    .
    .5. Mỗi ngày trước khi đi ngủ ăn một quả táo tàu hoặc để một quả quýt đã được bóc ở đầu giường, để cho người mất ngủ ngửi được hương thơm phảng phất, có thể trấn an thần kinh trung ương, giúp chìm vào giấc ngủ.
    .
    .
    6. Lấy một lượng hành tây thích hợp xay nhuyễn, cho vào trong bình đậy nắp chặt, trước khi ngủ đặt ở bên gối ngửi khí hắc của nó, thông thường sau khoảng 15 phút thì có thể chìm vào giấc ngủ.
    .
    Những phương pháp thực liệu trên đều có tác dụng trợ giúp giấc ngủ, nhưng quan trọng nhất là không có bất cứ một tác dụng phụ nào, chúng ta hãy thử áp dụng xem nhé.

Nguồn: Dược Sư Lưu Ly Phật

Bắp cải – Loại rau nhiều dinh dưỡng nhất mùa đông

Bạn hãy cải thiện sức khỏe cho bản thân và gia đình bằng việc chăm chỉ ăn bắp cải ít nhất mỗi lần / tuần trong mùa đông này để nhận được nhiều dinh dưỡng quý giá.

Thành phần dinh dưỡng có trong 100g bắp cải
– Calo: 25
– Chất béo: 0 g
– Cholesterol: 0 mg
– Natri: 18 mg
– Tinh bột: 5 g


– Chất xơ: 2 g
– Protein: 1 g
– Vitamin A: 133 IU
– Vitamin C: 32 mg
– Can xi: 47 mg
– Sắt: 1 mg

Những lợi ích sức khỏe của bắp cải

1. Bắp cải có chứa nhiều chất sắt vì thế nó rất hữu ích trong điều trị thiếu máu cho những người đang thiếu máu do thiếu sắt.

2. Cải bắp cũng là loại rau giàu vitamin và dưỡng chất nên khá hiệu quả trong điều kiện bệnh viêm khớp, suy nhược thần kinh, sự chảy mủ, khó tiêu, tầm nhìn có vấn đề và bệnh béo phì.

3. Loại rau thường được trồng ở các mảnh vườn nhỏ của mỗi gia đình này rất giàu dinh dưỡng và chất xơ. Bên cạnh đó nó còn là một nguồn vitamin C hoàn toàn tự nhiên.

Đặc biệt, bắp cải nổi tiếng với chất đạm tự nhiên được gọi là indoles. Hiện nay nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chất indoles có trong bắp cải có thể giảm nguy cơ phát triển của nhiều bệnh ung thư.

4. Ngay từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, tro của bắp cải đã được pha trộn với mỡ lợn để tạo thành một loại thuốc mỡ giúp khử trùng vết thương.

Và trong chế độ ăn uống của người châu Á, các nghiên cứu dịch tễ học ở những nam giới sống tại Trung Quốc và Nhật Bản cũng cho thấy: nếu ăn nhiều bắp cải trong chế độ ăn hàng ngày sẽ khiến tỉ lệ bệnh ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn rất nhiều so với các nam giới ở Mỹ. Kết quả này cũng tương tự được tìm thấy với tỷ lệ ung thư vú ở các phụ nữ.

5. Bắp cải được đánh giá là loại rau của thế giới dinh dưỡng vì nó tương đối rẻ so với những loại rau khác nhưng nó lại có nhiều sinh tố bảo vệ sức khỏe con người. Nó cũng là thực phẩm hữu hiệu giúp bạn trọng lượng vì một bát cải bắp chỉ chứa khoảng 15 calo.

6. Ngoài ra, bắp cải rất giàu các vitamin có lợi cho sức khỏe dưới đây:
– Vitamin A: chịu trách nhiệm trong việc bảo vệ làn da và đôi mắt của bạn.
– Vitamin C: một chất chống oxy hóa quan trọng và giúp cơ thể đốt cháy chất béo.

– Vitamin E: một chất béo hòa tan chống oxy hóa đóng vai trò làm đẹp và chống viêm nhiễm cho làn da.- Vitamin B: giúp tạo hưng phấn cho toàn bộ hệ thần kinh và tăng cường trao đổi chất trong cơ thể.

7. Khoa học hiện đại cũng chứng minh rằng những lợi ích sức khỏe và giá trị chữa bệnh của bắp cải không chỉ dừng lại tại đó ngược lại bó còn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự ức chế các bệnh nhiễm trùng và loét.

Nguyên nhân là do những chất chiết xuất từ bắp cải được chứng minh giúp tiêu diệt một số virus và vi khuẩn, từ đó giúp tăng khả năng miễn dịch và sức đề kháng cho cơ thể nhiều hơn nữa. Bắp cải cũng chứa nhiều sắt, lưu huỳnh, khoáng sản giúp làm sạch hệ thống tiêu hóa.

Lưu ý khi chế biến bắp cải

Trong khi bạn nấu ăn, bạn cần cố gắng thực hiện thời gian nấu ở mức tối thiểu. Bởi vì nếu để nhiệt độ quá cao sẽ phá hủy các vitamin B, vitamin C, canxi, sắt, phốt pho và magiê có trong bắp cải.

Bạn nên ăn bắp cải ít nhất một tuần một lần để nhận được nguồn dinh dưỡng tự nhiên có trong nó. Bạn có thể chế biến bắp cải thành nhiều món hấp dẫn khác nhau như: làm dưa bắp cải, bắp cải xào, luộc, salad hoặc nước bắp cải.

Các lá xanh bên ngoài của bắp cải là nguồn vitamin A tuyệt vời. Các lá trắng bên trong cũng chứa tỷ lệ sắt cao. Do đó bạn nên kết hợp ăn cả các lá bên ngoài và bên trong mà không nên bỏ các lá bên ngoài đi.

Hoàng Việt (Theo vitaminsdiary)

Canh dep (20)

Ðậu Nành Trong Lãnh Vực Y Khoa

Tác giả : Trần Anh Kiệt

Hiện nay, trước tình trạng bệnh nan y đang lan tràn trên thế giới, các khoa học gia đã nghiên cứu đủ mọi phương pháp để phòng chống kể cả áp dụng phương pháp dưỡng sinh, y thuật Đông Phương và dược thảo. Trong quá trình nghiên cứu, các khoa học gia đã để ý tới hai nước Trung Hoa và Nhật Bản.

Phần đông dân chúng trong hai quốc gia này có thói quen tiêu thụ đậu nành và những sản phẩm của đậu nành trong các bữa ăn thường nhật. Nên tỷ số những người mắc bệnh nan y rất thấp so với các nước Tây Phương và Hoa Kỳ.

Vì thế, họ đổ xô nhau đi nghiên cứu về đặc tính của đậu nành để xem có thể ứng dụng vào y dược để điều trị một số bệnh tật hay không.Tháng 9 năm 1996, hội nghị quốc tế lần thứ hai nhằm tổng kết các thành quả nghiên cứu của khoa học gia về công dụng của đậu nành trong lãnh vực y học đã được diễn ra trong 5 ngày liền tại Brussels . Hơn 80 khoa học gia đến từ khắp nơi trên thế giới đã lần lượt thuyết trình về những kết quả sưu tầm mới nhất mà họ đã thu đạt được trong lãnh vực y khoa trị liệu.

1. Đậu Nành Có Khả Năng Chữa Được Bệnh Tim Mạch

Hiện nay, nhiều bằng chứng cụ thể cho thấy đậu nành có khả năng làm giảm lượng cholesterol của những người bị bệnh cao mỡ. Những bệnh nhân này nếu để lâu sẽ dẫn đến bệnh tim trầm trọng và có nguy cơ bị chết bất đắc kỳ tử vì mạch máu bị nghẽn hay tim bị kích ngất. Thực ra chất Protein trong đậu nành có khả năng làm hạ mức độ hai độc tố LDL Cholesterol và Triglyceride, tác nhân gây ra bệnh cao mỡ. Kết quả này rất khả quan và công hiệu hơn hẳn việc trị liệu bằng phương pháp ăn uống theo qui thức do các chuyên gia y tế ấn định, kể cả việc chữa được các chứng bệnh cao mỡ trầm trọng và bệnh cao mỡ ở trẻ con.

Thêm vào đó, đậu nành còn có khả năng làm tăng lượng HDL cholesterol, một chất hữu ích trong cơ thể có tác dụng đề kháng lại hai chất LDL Cholesterol và Triglyceride độc hại kể trên. Ngoài ra đậu nành cũng còn có công hiệu ngăn chận sự oxýt hóa của chất LDL Cholesterol, không cho chúng có cơ hội chuyển hóa thành những nguyên tố độc hại khác, và phòng ngừa được chứng nghẽn mạch máu.

Isoflavones là một hợp chất thiên nhiên hàm chứa trong đậu nành có cấu trúc hóa học tương tợ như kích thích tố nữ oestrogen. Hiện thời người ta chưa chứng minh được chính protein trong đậu nành hay chỉ riêng chất Isoflavones trong protein của đậu nành là có công hiệu chữa các chứng bệnh trên. Tuy nhiên các khoa học gia đều đồng quan điểm rằng đậu nành nói chung có khả năng trị được bệnh tim mạch, đặc biệt là chứng cao Cholesterol trong máu.

2. Đậu Nành Chữa Được Bệnh Của Xương

Xưa nay, các chuyên gia y tế đều công nhận calcium có khả năng phòng ngừa được bệnh xương xốp (osteoporosis), thường xảy ra trong giới phụ nữ trọng tuổi. Bệnh này cũng có xảy ra cho nam giới nhưng với một tỷ lệ thấp hơn.

Ngoài ra sự ăn uống theo quy thức cũng có khả năng làm cho xương được rắn chắc. Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy những người thường ăn đậu nành như dân chúng Nhật Bản cũng ít khi mắc phải bệnh xương xốp.

Người ta thí nghiệm trên loài chuột bằng cách cho chúng ăn toàn đậu nành không những ngăn chận được chứng thoái hóa calcium của xương mà còn làm cho xương được rắn chắc. Isoflavones trong đậu nành là một chất có tính năng động có tác dụng giống như oestrogen ngăn ngừa được chất men tyrosin kinase làm cho xương bị xốp và dễ gãy. Nó cũng còn trợ giúp cho tế bào xương hình thành vững vàng.

Một cuộc thí nghiệm khác được thực hiện bằng cách cắt bỏ noãn sào (buồng trứng) của chuột cái để cho nó không sản xuất ra kích thích tố oestrogen nữa, rồi cho chúng ăn toàn bằng đậu nành. Chất Isoflavones trong đậu nành vẫn ngăn chận được sự thoái hóa của xương và làm cho xương luôn luôn khỏe mạnh.

Những nghiên cứu gần đây cho biết những phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh, mỗi ngày dùng bột hay sữa đậu nành thường xuyên thì mật độ khoáng chất trong xương vẫn duy trì ở mức độ bình thường. Hiện nay tại Úc Châu xưởng bào chế dược phẩm đã sản xuất ra thuốc bằng đậu nành để cho người phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hằng ngày rất tiện lợi.

3. Đậu Nành Có Thể Phòng Chống Được Bệnh Ung Thư

Qua những nghiên cứu gần đây, các khoa học gia ghi nhận những người thường dùng đậu nành hoặc các sản phẩm của đậu nành trong khẩu phần ăn uống hằng ngày ít có nguy cơ bị bệnh ung thư vú, tử cung, ruột già. Các nghiên cứu khác được thực hiện trên cơ thể súc vật bằng cách gây cho chúng bị nhiễm bệnh ung thư rồi dùng chất genistein hàm chứa trong đậu nành để chữa trị thì thấy nó ngăn chận được sự phát triển của bịnh ung thư ruột già, gan và vú.

Người ta còn nghiên cứu bằng cách giả tạo một sự sống như thể trạng thật của một con người đang bị nhiễm bệnh ung thư và đặt trong ống nghiệm. Sau đó họ trích các hợp chất từ đậu nành để chữa trị và đạt được kết quả hữu hiệu. Những hợp chất này còn có khả năng ngăn chận sự cung cấp máu để nuôidưỡng một loại tế bào đặc biệt có khuynh hướng hình thành các bướu ung thư.

Hiện nay các thí nghiệm được thực hiện trên cơ thể của loài thú về khả năng chống bệnh ung thư của đậu nành đã thành công một cách tốt đẹp.. Tuy nhiên đối với con người cần phải thực hiện thêm nhiều cuộc thí nghiệm khác nữa để xác dịnh mức độ hữu hiệu và an toàn rồi mới công bố để sử dụng.

Gần đây khoa học gia Yehudith Birk của trường Đại học Hebrew ở Jerusalem đã thực hiện được một vài phương pháp đáng khích lệ, có thể chữa được bệnh ung thư ở nhiều cấp độ trầm trọng và trong nhiều bộ phận cơ thể khác nhau mà không cần biết bệnh đã phát sinh vì nguyên do gì. Hiện nay Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ đang cho phép áp dụng phương pháp này để điều trị một số bệnh nhân tình nguyện trong bệnh viện để thí nghiệm và kiểm chứng. Saponin và những hợp chất khác của đậu nành cũng đang được nghiên cứu và áp dụng.

Mong rằng cuộc thí nghiệm này được sớm thành công và sẽ mang lại một tin vui cho nhân loại trên toàn thế giới.

4. Đậu Nành Và Bệnh Thận

Trong lãnh vực này, người ta nghiên cứu một cách lẻ tẻ và hiện chưa có một kết quả thỏa đáng nào. Song vài thí nghiệm cho thấy đậu nành cũng có ích lợi trong việc chữa trị bệnh thận. Các khoa học gia của Ấn Độ đã chứng minh quy thức ăn uống bằng cách tiêu thụ rất ít chất béo và chất protein rồiphối hợp thêm đậu nành trong khẩu phần hằng ngày có công hiệu giảm được chất cholesterol trong máu.

Các cuộc thí nghiệm khác trên loài chuột chứng minh được chất Genistein trong đậu nành có thể làm cho mạch máu được thư dãn và giảm chế được tốc độ lọc máu của thận, nên tránh được bệnh tiểu đường. Người ta đã trích hợp chất trong đậu nành để tiêm cho những con bò đã bị gây bệnh tiểu đường thì thấy tốc độ lọc máu của chúng trở lại mức độ bình thường.

5. Đậu Nành Và ảnh Hưởng Sinh Lý Của Phụ Nữ

Aedin Cassidy và các khoa học gia của Anh Quốc đã ngiên cứu biết được đậu nành điều hòa chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và kềm chế được sự phát triển quá mức kích thích tố oestrogen của phụ nữ trẻ tuổi. Vì khi kích thích tố này phát triển quá nhiều, người phụ nữ sẽ có sát suất dễ bị bệnh ung thư nhũ hoa hơn.

Đối với những phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh, dùng đến 40% đậu nành trong khẩu phần ăn uống hàng ngày sẽ không cần phải uống thuốc hồi phục kích thích tố mà vẫn có thể phòng ngừa được bệnh xương xốp. Nếu cảm thấy ăn uống bất tiện thì có thể dùng oestrogen thiên nhiên được bào chế thành thuốc viên từ đậu nành hiện có bày bán hợp pháp tại các tiệm dược phẩm.

6. Đậu Nành Và Sức Khỏe Của Trẻ Con

Tại New Zealand , người ta thí nghiệm bằng cách nuôi những con vẹt bằng bột đậu nành theo công thức sữa nuôi trẻ con và báo cáo rằng không có ảnh hưởng gì xấu đối với sự sinh sản và cơ quan sinh thực của chúng. Tuy nhiên thí nghiệm ở loài vật có kết quả chưa hẳn sẽ trùng hợp với thí nghiệm ở loài người.Trong thập niên qua, ông Kenneth Setchel, chuyên gia nghiên cứu về đậu nành đã báo cáo rằng trẻ con được nuôi dưỡng với sữa đậu nành có công thức Isoflavones cao vẫn được an toàn. Trong nhiều năm nuôi dưỡng như vậy cũng không có ảnh hưởng gì xấu cho đứa bé cả.

Khoa học gia Alercreutz bảo rằng người Á Châu thường ăn uống nhiều đậu nành hơn không có ảnh gì bất lợi cho việc sinh sản của họ cả. Chất Isoflavones tập trung trong thủy dịch bao bọc chung quanh bào thai tương đồng với mức độ Isoflavones trong máu của một người mẹ bình thường.

Ở Nhật Bản, trẻ con khoảng 4 tháng tuổi là đã cho dứt sữa mẹ và được thay thế bằng sữa đậu nành, được bảo đảm rằng nó sẽ có đầy đủ sức khỏe trong tương lai vào thời kỳ khôn lớn. Lamartinière đã thí nghiệm bằng cách cho chuột ăn chất Genistein của đậu nành sẽ tránh được bệnh ung thư vú về sau.

Hiện thời người ta vẫn còn nghiên cứu để xác định rõ ràng vai trò của đậu nành trong việc nuôi dưỡng trẻ con quan trọng như thế nào.

Tóm lại, qua sự trình bày trên đây, chúng ta thấy quả thật đậu nành đã có công hiệu đối với việc phòng ngừa và chữa trị một số bệnh tật. Tuy nhiên vì bản thân nó xuất xứ từ một loại thảo mộc tầm thường nên trong dân gian ít ai để ý tới. Tại Hoa Kỳ, người ta đang nghiên cứu dể nắm vững các chứng minh cụ thể về công dụng của đậu nành rồi mới chính thức đưa vào y khoa trị liệu. Tại Úc Châu tầm mức của đậu nành có khả năng y dược chưa được đặt thành đề tài nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây người ta đã bắt đầu sử dụng đậu nành để sản xuất chất oestrogen nhân tạo và được bày bán trong các nhà thuốc tây một cách hợp pháp để cho các phụ nữ trong tuổi tắt kinh sử dụng hàng ngày rất tiện lợi.

Mong rằng trong tương lai, những công dụng khác của đậu nành trong lãnh vực y dược sẽ còn được quảng bá rộng rãi hơn nữa và sẽ mang lại nhiều hữu ích thiết thực trong việc bảo vệ sức khỏe của con người.

TRẦN ANH KIỆT
PvP sưu tầm

Lưu ý khi ăn đậu nành

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, đậu nành là loại thực phẩm rất có ích cho sức khỏe nhưng vẫn có đôi điều cần lưu ý…

Những thực phẩm làm từ đậu nành đều rất giàu protein, chất xơ, canxi, kali và vitamin B. Một nghiên cứu ở châu Âu đã chứng minh, đậu nành có thể giúp hạ thấp nguy cơ về bệnh tim mạch. Nếu dùng đậu nành thay thế cho các loại thịt đỏ sẽ giảm được khoảng 1/5 lượng cholesterol tiêu thụ.

Do vậy, các nhà khoa học khuyến cáo, mỗi ngày ăn một ít đậu nành sẽ tốt cho sức khỏe (đối với những phụ nữ khỏe mạnh). Tuy nhiên, vẫn có những điều quan trọng bạn cần lưu ý:

– Đối với những người mới bắt đầu dùng thử món ăn làm từ đậu nành, để có lợi cho cơ thể, chỉ nên dùng dưới hình thức tự nhiên, ít chế biến và chỉ giới hạn mỗi ngày một lần.

– Chỉ nên tiêu thụ lượng thức ăn từ đậu nành ở mức vừa phải vì trong đậu nành có chứa chất estrogen từ thực vật. Chúng sẽ hoạt động như các hoóc-môn tự nhiên trong cơ thể. Và nếu lượng estrogen quá nhiều có thể làm cho một số căn bệnh ung thư vú phát triển. Trên thực tế, các kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu bổ sung hàm lượng đậu nành ở mức độ cao sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú.Do vậy, những phụ nữ mà bản thân hoặc gia đình đã có tiền sử về căn bệnh này thì không nên ăn những món ăn hay thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.

– Đậu nành còn liên quan đến chức năng của tuyến giáp. Đây là cơ quan điều khiển việc đốt cháy năng lượng trong cơ thể sao cho thật hiệu quả. Như vậy: nếu bạn là người khỏe mạnh, không có tiền sử bị ung thư vú hay các bệnh liên quan đến tuyến giáp thì việc lựa chọn những thức ăn làm từ đậu nành hoàn toàn có lợi cho cơ thể. Cách an toàn nhất để thưởng thức các món ăn này là chọn những món ít được chế biến như pho-mát, đậu hũ và chỉ dùng giới hạn mỗi ngày một lần.

Nguồn: aFamily.vn

Dâu Tây

Tác giả : Mai Duyên

Ăn các loại quả mọng như mâm xôi, dâu tây… có tác dụng cải thiện trí não và giúp ngừa chứng mất trí nhớ liên quan tới tuổi già.

Đó là nhờ các loại quả mọng chứa nhiều chất chống ô xy hóa, chất bảo vệ tế bào khỏi những tổn hại do các phân tử gốc tự do gây ra. Hai chuyên gia sức khỏe Mỹ Barbara Shukitt-Hale và Marshall G.Miller khẳng định điều này sau khi hồi cứu các cuộc khảo sát về tác dụng của các loại quả mọng ở tế bào, động vật và ở người, theo Science Daily. Hai chuyên gia còn cho biết thêm, các loại quả mọng giúp thay đổi cách thức tế bào thần kinh trong não giao tiếp, có thể ngăn ngừa tình trạng viêm ở não vốn gây hại thần kinh, đồng thời cải thiện quá trình điều khiển dây thần kinh vận động và nhận thức.

Mai Duyên
Source: hoavouu

Chuyển đến trang:   1  2

Canh dep (29)TÌNH VÀ NGHĨA

Tháng 10, 2007 – Chân Tịnh Ý biên tập :
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 31.07.2007 tại xóm Mới – làng Mai – Pháp
.

Trong tiếng Việt có chữ Tình 情và chữ Nghĩa 義. Chữ Nghĩa rất là khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ Tình mà viết ra chữ Hán thì có chữ tâm忄 tức là trái tim phía bên trái. Bên phải có chữ thanh 青 là màu xanh, trái tim màu xanh. Ban đầu thì màu xanh mà về sau nó có thể biến thành màu khác, nhưng làm sao đừng để nó thành màu đen.

Tình ban đầu thường rất bồng bột, nóng bỏng, có tính đam mê. Khi con người bị năng lượng của tình chiếm cứ thì họ không được an ổn lắm. Ăn không an mà ngủ cũng không an, họ như đang bị đốt cháy. Tình là ngọn lửa. Người nào qua cầu rồi thì mới hay. Vướng vào chữ tình rồi thì khó an trú trong hiện tại lắm. Cứ nghĩ tới giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm người đó, ngồi ngắm đủ no rồi, khỏi ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê đó càng lớn. Trở ngại là chất liệu làm cho tình càng lớn. Dễ dàng quá thì tình không lớn mạnh.

Ngày xưa khi chưa có e-mail, chưa có téléphone, đôi khi mình đợi một lá thư tình cả tuần này sang tuần khác. Đáng lý hôm qua lá thư tới rồi, nhưng sao nó chưa tới?

Mình đợi suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ cho đến lúc ông phát thư đi ngang trước ngõ. Ông thường đến lúc mười giờ sáng, thì chín giờ mình đã bắt đầu đứng đợi. Ông phát thư sáng nay sao đi trể quá, đi chậm quá, mình đếm từng bước của ông đi. Nếu ông đi ngang mà không dừng lại thì mình buồn lắm, lại phải đợi thêm hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Tây Phương họ ví khi yêu như bị té (tombé d’amour), đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói bị té thì nói ốm. Tây Phương cũng nói ốm. Nguyễn Bính có hai câu thơ :

Gió mưa là bệnh của trời.
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Trời đẹp thì không có bệnh mà hể có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Tình thường thường không được thỏa mãn là tình sầu. Sầu tình. Ốm là ốm tương tư, tương tư là nhớ nhau. Tình yêu là một cơn bệnh, ốm tương tư tức là nhớ quá. Nhưng nếu tình yêu đó được thỏa mãn dễ dàng, nó bùng lên rất nhanh nhưng rồi nó chết cũng rất mau. Đam mê nó lên như một ngọn lửa cao và khi rơi xuống thì cũng rất là mau, tình yêu tàn lụi rất là mau. Một cặp ở với nhau được lâu dài, cái đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ yếu tố thứ hai. Đó là nghĩa, tình nghĩa. Cái tình nó đưa tới cái nghĩa. Nếu cái tình đàng hoàng, nếu mình biết yêu cho đàng hoàng, thì tự nhiên nó đưa tới cái nghĩa. Chính nghĩa là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được với nhau. Cho nên phải có cái nghĩa để bổ sung cái tình. Người ta không thể sống trăm năm bên nhau với tình được. Bởi tình là một ngọn lửa tàn rất mau, nghĩa trái lại nuôi dưỡng lửa tình âm ỉ cháy.

Chữ nghĩa thường đi đôi với chữ ơn: ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mà mình nhận được là ý thức rằng : Có bao nhiêu người con gái, anh ấy không chọn mà anh chọn riêng mình? Biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, địa vị nàng không chọn mà nàng lại chọn mình? Ý thức đó là ơn. Tình yêu này nó không chỉ trong vòng nam nữ. Bạn bè cũng vậy, Cha mẹ cũng vậy, Thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con và đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác? Cha mẹ có thể biết ơn đứa con, sự ra đời của đứa con có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cuộc đời còn lại, nên cha mẹ yêu thương con. Cũng như thầy trò, tại sao có nhiều thầy, người đó có thể tới quy y mà người ta chọn thầy này. Người thầy cũng biết ơn người đệ tử. Ơn đó là yếu tố của hạnh phúc. Tại sao anh không chọn người khác? Sự lựa chọn đó là do đâu mà có? Nếu chỉ là sự ham muốn sắc đẹp thôi, không đủ, phải có cái gì đó.

Ở bên Mỹ có anh chàng đó rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú và có việc làm lương rất lớn lại có rất nhiều cô bạn gái thật là xinh đẹp. Bà mẹ rất là ngạc nhiên khi thấy anh thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp và nước da hơi đen, mà sao con trai của mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác. Hôm đó hai mẹ con ngồi với nhau, bà hỏi có bao nhiêu người con không chọn, mà sao con chọn con nhỏ này vừa đen vừa thấp. Anh chàng không biết trả lời làm sao hết, anh chàng chưa suy nghĩ nên khi bị hỏi bất ngờ, anh không trả lời mẹ được. Nhưng ít lâu sau anh ta quán chiếu và tìm ra câu trả lời, cô này mỗi khi anh nói chuyện thì cô lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe và cô chứng tỏ hiểu được thơ của anh. Còn những cô gái kia cũng nghe thơ anh nhưng mà nghe do phép lịch sự thôi, bị nghe thơ chứ không thích. Cô này thì khác, cô thích thơ, cô thưởng thơ, cô tham gia thơ và cô trở thành tri kỷ của anh chàng. Trên cuộc đời này có thể tìm được một người có thể hiểu mình được thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này nhưng chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Mà nếu mình là một người con trai hay một người con gái và trong cuộc sống này mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được mình, hiểu những khó khăn những khổ đau những ước vọng của mình, thì mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ.

Đời một người là để đi tìm một người tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc vô cùng. Ngày xưa có một người chơi đàn rất là hay, bạn hữu không có ai hiểu được tài năng của ông ta. Người này làm quan và chưa bao giờ trong giới quan chức bạn bè thân thuộc mà tìm được người có thể hiểu được tài ba của mình. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ rất là đẹp, trải chiếu ra, pha trà, đốt trầm lên. Không khí trang nghiêm lúc đó ông mới chơi đàn. Ông cảm thấy như chỉ có suối, cây, mây, gió mới hiểu được tiếng đàn của ông. Một hôm đang đàn thì tự nhiên dây đàn bị đứt. Thay dây mới vừa đàn thêm một câu nữa thì nó đứt nữa. Ông ta nghĩ chắc có người đang nghe lén tiếng đàn. Ông đứng lên nói lớn có vị nào đang nghe lén tôi đàn xin bước ra, làm như vậy không có dễ thương. Thì tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện, anh tiều phu này đã nghe lén. Anh tiều phu này có lỗ tai rất là hay, nghe và hiểu được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái quý, cái tài ba của người đàn. Vì vậy cho nên dây đàn bị đứt. Anh chàng tiều phu tên là Chung Tử Kỳ và người đánh đàn là Bá Nha. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được người hiểu được tiếng đàn của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn với Bá Nha nhưng không muốn về kinh đô, chỉ muốn làm tiều phu. Lâu lâu Bá Nha nhớ bạn, hẹn với bạn cùng uống trà, nghe đàn. Bá Nha đã tìm được người tri kỷ. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay với tên của hai người: Bá Nha và Tử Kỳ. Hồi thầy mới mười tám tuổi, thầy đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha, Tử Kỳ. Trên đời của mình mà có một người lắng nghe được mình, hiểu được mình thì mình là người may mắn nhất. Anh chàng ở Cali mới trả lời câu hỏi của mẹ, tại sao má biết không, tại vì người đó hiểu con.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình, thật là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy cũng làm cho cha, cho thầy hạnh phúc. Người mà hiểu được mình thì mình biết ơn người đó. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể hiểu được người khác. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi sống với một người có khả năng hiểu mình thì hạnh phúc lắm, vì hiểu là nền tảng của thương. Không hiểu thì không thể nào thương được. Cho nên trong tình yêu đôi lứa phải cẩn thận. Mà tình yêu đôi lứa mình chỉ cần làm vài cái test thì mình biết là người đó hiểu mình hay là không. Nếu người đó không hiểu được mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương tiền lớn, ô tô đẹp, có nhà cửa, bảnh trai, hay là có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, cưới người đó mình cũng sẽ khổ suốt đời, gọi là khổ sai chung thân. Đó là một nhà tù, tình yêu là một nhà tù. Người nào mà khi mình mới nói đã cắt lời, thích khoe khoang cái riêng của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, khổ đau của người khác, không biết lắng nghe mình, thì chỉ cần vài ba phút là mình có thể nhận ra được. Đừng để bị hấp dẫn bởi bề ngoài, những bóng sắc bên ngoài, địa vị danh lợi, xe hơi, nhà cửa, tiền lương, bằng cấp. Đừng để những cái đó làm mờ mắt mình. Hai mắt mình phải tỉnh táo để thấy rằng người con gái đó hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình và hiểu được mình thì sẽ thương mình, rõ ràng như vậy.

Trong đạo Phật, cái thương đích thực nó được làm bằng cái hiểu, không hiểu thì không có thương. Cha mà nếu không hiểu con thì càng thương con, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhiều hơn và người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương nó cũng không lớn lên, nó dẫm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dẫm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị không tu, bởi cái hiểu không lớn nên cái thương không thể lớn. Khi mà tình thương không lớn thêm thì từ từ nó co rút lại cho đến khi trở thành một cục cứng ngắt. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Còn khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính cái ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng mình và người đó cho đến suốt đời, cái đó là nghĩa. Không phải là cái bồng bột lúc ban đầu, cái tình, không phải là ngọn lửa nuôi dưỡng đâu.

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay là bằng điện mà nấu bằng rơm và rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho nó cháy chậm lại, mình cần một chiếc đủa. Đặt một nắm rơm vô bếp, lấy cái đủa đè xuống thì rơm sẽ cháy từ từ. Ngày xưa miền quê Việt Nam còn dùng trấu. Trấu tức là vỏ hạt lúa. Nhiều nhà không có hộp quẹt nên phải nuôi lửa. Muốn nuôi lửa lâu mình đổ vào bếp một ít trấu. Trấu cháy ngún, cháy lâu. Nó không cháy bùng như rơm mà cháy chầm chậm suốt đêm. Sáng mai mình khơi ra thì còn lửa ở trong đó, gọi là lửa trấu. Lửa rơm thì mau cháy, mau tàn. Đó là ngọn lửa tình. Còn nghĩa là lửa trấu, nó cháy suốt đêm dài.

Ngày xưa Việt Nam còn có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt và cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm mình phải qua hàng xóm xin lửa, nếu mà nhà mình không có trấu. Các cháu có thể là chưa thấy con cúi. Con cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con. Người ta lấy rơm bện lại thành ra một con rắn rất chặt và đốt một đầu, đầu kia để tay cầm. Nó cứ cháy ngún từ từ và cháy được nhiều giờ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới con cúi lấy lửa. Còn nếu không có con cúi và cũng không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi.

Thầy có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa. Chuyện đó xảy ra trong quá khứ. Thế hệ của các cháu giờ đây có thể không biết đi xin lửa là cái gì.

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi.
Buốt lạnh như trời cuối thu buốt lạnh.
Tác phẩm vẫn đang còn đó.
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa.
Xin các bạn đưa tay nói thật.
Có phải tất cả chúng ta cuối cùng tin rằng.
Trong xóm ta thế nào cũng có người còn lửa.
Chúng ta hãy tin vào cái điều đó như một người tin vào lời ước của họ.
Tôi biết có những nhà nghèo nhưng lửa hồng ngún cháy ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ.
Em hãy nhớ lời tôi căn dặn.
Một nắm rơm đặt vào đợi khói tỏa màu xanh.
Em nhìn xem như một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi cũng muốn gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa thì mình phải biết cầm một nắm rơm. Tới bếp của người ta, mình đừng có quấy động cái bếp vì người ta đang nuôi lửa ở trong đó. Cầm nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy và đợi. Chừng hai ba chục giây, mình thấy khói lên tức là biết rằng nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên rồi lấy một nắm rơm khác nắm lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Quý vị biết rằng ngày xưa xin lửa là chuyện mỗi ngày. Lửa có hai thứ một là lửa rơm hai là lửa trấu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm rất lâu. Lửa rơm được ví cho tình yêu, cho tình. Lửa trấu tượng trưng cho nghĩa.

Ân nghĩa là cái tiếp nối của chữ tình. Cái tình bắt đầu cho khéo để từ từ nó đi tới cái nghĩa. Ân nghĩa là chất liệu nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc và răng long. Nghĩa là sự thực tập về tình yêu, mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và nó biến thành nghĩa. Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói mỗi cử chỉ săn sóc đều tạo ra ơn và nghĩa hết. Chính cái đó là keo sơn, nó giúp cho một cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy, tình bạn thì không có sự cháy bùng, không có sự đam mê như là tình yêu. Cho nên tình bạn nó dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn lâu dài bền chắc, nó nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Vì vậy bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu nhưng mà từ từ sẽ trở thành hai người bạn. Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành tình bạn được thì tình yêu sẽ chết, sẽ không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Ơn nghĩa đó như đã nói ở trên, nó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người con trai người đó lại chọn mình, nên mình biết ơn người con gái đó. Giữa bao nhiêu người con gái đẹp mà mình chọn một người thôi thì cái đó là bắt đầu từ chọn. Cái chọn này không phải là nhất thời, cái chọn này là phải xãy ra trong một quá trình nào đó với trí tuệ của mình chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu tình chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận, phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe. Lắng nghe bạn bè, lắng nghe cha mẹ, lắng nghe các em của mình. Tại vì họ cũng có cái thấy mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn mình. Mình đam mê rồi thì mình không còn thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

Xin quý vị giúp dịch chữ nghĩa ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Nghĩa đi đôi với chữ ơn: Ơn nghĩa. Khi thương thì ranh giới giữa cá nhân không còn nữa. Hai người trở thành một. Mình không đi tìm cái hạnh phúc riêng của mình. Hạnh phúc phải là hạnh phúc chung. Ở làng Mai mình nói hạnh phúc chưa bao giờ là hạnh phúc của riêng một mình con, đó là bài hát của sư cô Giải Nghiêm. Hạnh phúc hay đau khổ trong tình yêu không còn là vấn đề riêng của một người nữa mà của cả hai người. Đó là yếu tố thứ tư ( từ, bi, hỹ, xả ) của tình yêu trong đạo Phật, tức là không phân biệt tôi khác, anh khác. Hai người là một thôi. Cho nên không có chuyện ông ăn chả bà ăn nem, ông đi tìm thú vui riêng của ông, bà đi tìm thú vui riêng của bà. Cái vui của ông cũng là cái vui của bà.

Tuần thứ ba trong khóa tu, có một thiền sinh Tây phương hỏi một câu rất đáng thương. Ông nói rằng, con khổ quá đi. Con rủ nhà con đi tới khóa tu, bà không chịu ở (lại), bà cứ đòi con phải đi (về), bây giờ con phải làm sao. Thay vì nói rằng vì bà chưa thấy được sự cần thiết của tu học thì tôi trả lời rằng tại vì ông mà ra hết. Tại những gì bà thích ông đã không thích. Nếu ông thích và ông yểm trợ bà những gì bà thích thì chắc chắn bà sẽ thích cái ông thích. Sở dĩ bà đòi đi là vì ông không chú trọng tới bà. Ông không để tâm tới, ông không hiểu được bà. Những gì bà yêu mến, bà mong ước, ông không để ý tới. Vì vậy cho nên bà cũng không để ý tới ông. Những thứ ông thích thì bà ghét, những thứ ông ghét thì bà lại thích cho biết tay. Thường thường nó xảy ra như vậy. Vì vậy vấn đề hạnh phúc cũng như khổ đau trong tình yêu chân thật không còn là vấn đề của cá nhân nữa mà là của chung. Chúng ta phải có thì giờ quan tâm.

(Nguồn: Phù Sa)