Hoa Tuệ Giác 3

Recent Pages: 1  2  3   5  6  7  8  9  10 11

Những cánh hoa trí tuệ – Phần 01

Tịnh Tuệ sưu tầm

1.

Nầy Cunda, sự tình này không thể xảy ra: một người bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người khác bị rơi vào bùn lầy. Này Cunda, chỉ khi nào một người không rơi vào bùn lầy mới có thể kéo lên một người rơi vào bùn lầy.

Tương tự, Này Cunda, sự tình này không thể xảy ra: một người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát cho người khác. Chỉ khi nào, một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, mới có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác (Trung Bộ Kinh I. 106f).

This situation does not occur, Cunda, when one sunk into mud will by himself pull out another who is sunk into mud. But this situation occurs, Cunda, when one not sunk into mud will by himself pull out another who is sunk into mud.

This situation does not occur, Cunda, when one who is not tamed, not trained, not utterly quenched, will by himself tame, train, make another utterly quenched. But this situation occurs, Cunda, when one who is tamed, trained, utterly quenched, will by himself tame, train, make another utterly quenched (Majjhima-Nikaaya I. 45; Middle Length Saying I. 56).

 2

Ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa (Trung Bộ Kinh I. 286).

Some monk here is very gentle, very meek, very tranquil so long as disagreeble ways of speech do not assail him. But when disagreeable ways of speech assail the monk it is then that he is to be called gentle, is to be called meek, is to be called tranquil (Majjhima-Nikaaya I. 126; Middle Length Saying I. 163).

 3

Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến chơn an lạc. (Tương Ưng I. 11f).
Life to its doom is led. Our gears are few.
Led to decay, for us no shelters stand,
Whoso doth contemplate this fear of death,
Let him so act that merit brings him bliss.

(Sa”myutta-Nikaaya I. 2; Kindred Saying I. 4).

4

Thời gian lặng trôi qua,
Đêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh. (Tương Ưng I. 13)
The hours pass by. Nights drive us ever on.
Stages of life in turn abandon us.
Whoso doth contemplate this fear of death,
Let him reject the bait of all the worlds,
Let him aspire after the final peace.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 3; Kindred Saying I. 4).

 5

 Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành. (Tương Ưng Bộ I. 18).
They make no lamentation o’er the past,
They yearn not after that which is not come,
By what now is do they maintain themselves;
Hence comes it that they look serene of hue.
By yearning after that which is not come,
By making lamentation o’er the past,
Hence comes it that the foolish wither up
E’en as a tender reed by sickle shorn.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 5; Kindred Saying I. 8).

 6

Không nên chế ngự ý,
Hoàn toàn về mọi mặt,
Chớ có chế ngự ý,
Nếu tự chủ đạt được.
Chỗ nào ác pháp khởi,
Chỗ ấy chế ngự ý. (Tương Ưng Bộ I. 37)
Not on all sides should mind be held in check.
Restrain it not if self-control be won.
But whence soever evil things do rise,
Thence should the mind be curbed and held in check.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 14; Kindred Saying I. 21).

 7

Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hang người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời.
(Tương Ưng Bộ I. 58)
Not if he merely talk or simply hear,
Shall he avail to make advance herein.
A hard and strenuous course is this, whereby
The strong in spirit liberation find
In contemplative work from Maara’s toils.
Not thus in sooth it is they do who strong
In spirit know the methods of the world,
And knowing, have attained Nibbaana here,
Safe crossing o’er where all the world sticks fast.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 24; Kindred Saying I. 34).

 8

Cho ăn là cho lực,
Cho mặc là cho sắc,
Cho xe là cho lạc,
Cho đèn là cho mắt.
Ai cho chỗ trú xứ,
Vị ấy cho tất cả,
Ai giảng dạy Chánh pháp,
Vị ấy cho bất tử.
(Tương Ưng Bộ I. 73)
He giveth strength who giveth food;
Who giveth gear gives comeliness;
He giveth sight who giveth lamp;
And he it is gives happiness
Who giveth vehicles; whoso
Doth give a dwelling giveth all.
Who in the Norm doth give instruction, this
Giveth Ambrosia [undying bliss].
(Sa”myutta-Nikaaya I. 32; Kindred Saying I. 43).

 9

Nghiệp minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
(Tương Ưng Bộ I. 76)
Goodwill, and wisdom, mind by method trained,
The highest conduct on good morals based:–
This maketh mortals pure, not rank nor wealth.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 33; Kindred Saying I. 46).

 10

— Vật gì tốt không già?
Vật gì tốt trường cửu?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp không đoạt?
— Giới là tốt không già,
Tín là tốt trường cửu,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp không đoạt.
(Tương Ưng Bộ I. 81f)
— What by the absence of decay brings luck?
What base and stay’s of happy augury?
What is the precious jewel of mankind?
And what is it that thieves should bear away?
— Good morals bring us luck that ne’er decays,
Faith well-established doth good fortune bring,
Wisdom’s the precious jewel of mankind,
Merit it is that thieves should bear away.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 36; Kindred Saying I. 51).

 11

Bạn đường, bạn đi đường,
Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn bè khi cần thiết,
Mới là bạn thường xuyên,
Công đức tự mình làm,
Là bạn cho đời sau. (Tương Ưng Bộ I. 84)
Escort’s a good friend to the wayfarer,
Mother’s the good friend dwelling in the home,
A comrade’s help where there has risen need,
Is a good friend again and yet again,
And meritorious deeds wrought by one’s self:–
That is a good friend in the life to come.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 37; Kindred Saying I. 51f).

 12

Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.
(Tương Ưng Bộ I. 111)
In that “rough path” non-Ariyans headlong fall;
To Ariyans the way is even. They
Walk in the uneven with an even stride.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 48; Kindred Saying I. 69).

 13

Ở đây kẻ bị chết,
Làm các nghiệp công đức,
Làm các nghiệp ác đức,
Lấy cả hai đem đi.
Cả hai của kẻ ấy,
Như bóng theo dõi hình.
Cả hai theo kẻ ấy,
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Là hậu cứ cho người.
(Tương Ưng Bộ I. 168f)
Man’s merits and the sins he here hath wrought:–
That is the thing he owns, that takes he hence,
That dogs his steps, like shadow in pursuit.
Hence let him make good store for life elsewhere.
Sure platform in some other future world,
Rewards of virtue on good beings wait.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 72; Kindred Saying I. 98).

14

Phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. (Tương Ưng Bộ I. 181)

It is by life in common with a person, that we learn his moral character; it is by converse with another, that we learn whether he is pure-minded; it is in time of trouble, that we learn to know a man’s fortitude; it is by intercourse, that we learn to know a man’s wisdom, and then only after a long interval, if we pay good heed and are not heedless, if we have insight and are not unintelligent. (Sa”myutta-Nikaaya I. 78; Kindred Saying I. 105).

15

Thắng trận sanh thù oán,
Bại trận nếm khổ đau,
Ai bỏ thắng, bỏ bại,
Tịch tịnh, hưởng an lạc. (Tương Ưng Bộ I. 190)
Conquest engenders hate; the conquered lives
In misery. But whoso is at peace
And passionless, happily doth he live;
Conquest hath he abandoned and defeat.
(Sa”myutta-Nikaaya I. 83; Kindred Saying I. 109f).
.
Thuy Huong Vang 2015 (2)

 1

Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được quăng lên hư không, khi thì rơi xuống đầu gốc, khi thì rơi xuống chặng giữa, khi thì rơi xuống đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, dong ruỗi, luân chuyển, khi thì đi từ thế gới này đến thế giới kia, khi thí đi từ thế giới kia đến thế giới này. Vì sao? Vì rằng không thấy bốn Thánh đế. (Tương Ưng Bộ Kinh V, trang 638-639).

Monks, just as a stick, when thrown up into the air, falls, now on its butt, now on its middle, now on its tip, even so beings, hindered by ignorance, fettered by craving, run on, wander on, pass on from this world to the next and thence come back again to this world. What is the cause of it? Through the fact of not seeing four Ariyan truths. (Samyutta-Nikaya V, p. 440; The Book of the Kindred Sayings V, p. 371f).

2

Vô thỉ, này các tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu nõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. (Tương Ưng Bộ Kinh V, trang 641).

Incalculable is th ebeginning of this faring on. The earliest point is not revealed (of the pain) of blows from spears, swords and axes. Even if this were to befall one, monks, I would not deen the full comprehension of four Ariyan truths to be won with sorrow and woe, but with joy and gladness. (Samyutta-Nikaya V, p. 441; The Book of the Kindred Sayings V, p. 372f).

 3

Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao? Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao? Vì không thấy được bốn Thánh đế. (Tương Ưng Bộ Kinh V, trang 660).

Well, monks, sooner I declare would that blind turtle push his neck through that yoke with one hole, popping up to the surface once in a hundred years, than would a fool who has gone to the Downfall become a man again. What is the reason for that? Because here prevails no pracice of the holy life, no righteous living, no doing of good deeds, no working of merit, but just cannibalism and preying on weaker creatures. Why so? It is through not seeing the four Ariyan truths. (Samyutta-Nikaya V, p. 456; The Book of the Kindred Sayings V, p. 383).

4

Này các Tỷ-kheo, dầu ác Như Lai có xuất hiện hay các Như Lai không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp guyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là vô thường”. Vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là vô thường”. (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 523).

Monks, whether there be an appearance of non-appearance of a Tathagata, this causal law of nature, this orderly fixing of things prevails, namely, All phenomena are impermanent. About this a Tathagata is fully enlightened, he fully understands it. So enlightened and understanding he declares, teaches and makes it plain. He shows it forth, he opens it up, explains and makes it clear: this fact that all phenomena are impermanent. (Anguttara Nikaya I, 285; The Book of the Gradual Sayings I, p. 264).

5

Này các Tỷ-kheo, dầu ác Như Lai có xuất hiện hay các Như Lai không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp guyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là khổ”. Vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là khổ”. (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 523).

Monks, whether there be an appearance of non-appearance of a Tathagata, this causal law of nature, this orderly fixing of things prevails, namely, All phenomena are misery. About this a Tathagata is fully enlightened, he fully understands it. So enlightened and understanding he declares, teaches and makes it plain. He shows it forth, he opens it up, explains and makes it clear: this fact that all phenomena are misery. (Anguttara Nikaya I, 285; The Book of the Gradual Sayings I, p. 265).

6

Này các Tỷ-kheo, dầu ác Như Lai có xuất hiện hay các Như Lai không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp guyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là vô ngã”. Vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là vô ngã”. (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 523).

Monks, whether there be an appearance of non-appearance of a Tathagata, this causal law of nature, this orderly fixing of things prevails, namely, All phenomena are not the self. About this a Tathagata is fully enlightened, he fully understands it. So enlightened and understanding he declares, teaches and makes it plain. He shows it forth, he opens it up, explains and makes it clear: this fact that all phenomena are not the self. (Anguttara Nikaya I, 285; The Book of the Gradual Sayings I, p. 265).

7

Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp: ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi. (Trung Bộ Kinh I, 422).

Whoever sees conditioned genesis (Paticcasamuppada) sees dhamma, whoever sees dhamma sees conditioned genesis. (Majjhima Nikaya I, p. 191; The Collection of the Middle Length Sayings I, 237).

8

Ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. (Tương Ưng Bộ Kinh III, 219).

Seeing the Norm, one sees me: seeing me, one sees the Norm. (Samyutta-Nikaya III, p. 120; The Book of the Kindred Sayings III, p. 103).

9

Thân thể này không phải của các ông, không phải của người khác. Thân này, này các Tỷ-kheo, phải được xem là do hành động, do sắp đặt, do sự cố ý, do sự cảm thọ trong quá khứ. (Tương Ưng Bộ Kinh II, trang 118-119).

This body, brethren, is not your own, neither is it that of any others. It should be regarded as brought about by action of the past, by plans, by volitions, by feelings. (Samyutta-Nikaya II, p. 63; The Book of the Kindred Sayings II, p. 44).

10

Những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, những người ấy bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ không được tượng binh bảo vệ, hay không được mã binh bảo vệ, hay không được xa binh bảo vệ, hay không được bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ. (Tương Ưng Bộ Kinh II, trang 170).

They whose conduct in deed and word and thought is good, by them the self is guarded. Yes, though no squadron of elephants, or of cavalry, or of chariots, or of infantry keep grard for them, yet is the self guarded by them. And why is this? Because theirs is an inner guard, not an extenal guard; therefore is the self guarded by them. (Samyutta-Nikaya I, p. 72; The Book of the Kindred Sayings I, p. 99).

Chuyển đến trang:   1  2  3   5  6  7  8  9  10 11