Zen-5: Hành Thiền Để Giải Phóng Tâm

Recent Pages: 1  2  3  4  5  7  6

Thiền, năng lượng chuyển hóa thân tâm

(PGVN)

Không phải ai thực hành Thiền cũng đạt được kết quả giống nhau; người nào có nội tâm càng thiện lành càng dễ nhiếp tâm hơn. Và nếu nhiếp được tâm thì không những có sức khỏe mà còn có thể đạt đến sơ thiền

“Giáo pháp của Như Lai: thiết thực, hiện đại, không thời gian, đến để mà thấy, có thể đưa đến chứng ngộ, được người trí tự mình giác hiểu.”

Giáo pháp của Phật đều nhằm mục đích hướng chúng sinh đến trí tuệ giải thoát – giác ngộ hay đạt được nguồn hạnh phúc tuyệt đối. Tuy nhiên, đạo Phật không phải hướng con người đến một mục đích quá cao để rồi xa rời thực tế, mà chính là để muốn mọi người phải nổ lực hành thiện, làm lợi ích cho mình và cho người.

Đạo quả giác ngộ tuy cao siêu nhưng phải bắt đầu từ việc khéo léo giải quyết những vấn đề trong cuộc sống thực tế, đem lại lợi ích cao nhất cho mình và cho tha nhân.

Chính đức Phật từng dạy chư vị Tỳ kheo:

Này các Tỳ kheo, hãy đi đi, đi khắp nơi vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với đời vì an lạc và hạnh phúc của trời và người. Chớ đi hai người chung một đường, này các tỳ kheo,hãy thuyết pháp cao thượng ở lúc đầu, cao thượng ở giữa, và cao thượng ở cuối trong tâm trí và ngôn từ”.

(“Tăng già thời đức Phật,” tr.45).

Từ nguồn giáo pháp của Phật, trên 25 thế kỷ qua đã có biết bao người giác ngộ, ta không có thể thống kê. Còn lại phần lớn nhân loại bình thường, luôn phải đối mặt, giải quyết những vấn đề thực tế như: cơm, áo, gạo, tiền, sức khỏe – bệnh tật,… để bảo tồn sự sống và mưu cầu hạnh phúc trước mắt.

Đối với họ, giải thoát là một việc xa vời so với nhu cầu thực tại mà họ cần “có thực mới vực được đạo”. Những người như vậy thì liệu giáo pháp của Phật có đem lại lợi ích cho họ không?

Có chứ, giáo pháp của Phật không những có đầy đủ công năng để đem lại an lạc – hạnh phúc cho con người ngay trong hiện tại, mà còn đem lại an lạc hạnh phúc cho con người về lâu về dài nữa. Đó chính là những giá trị “thiết thực, hiện đại”của đạo Phật đã được lịch sử chứng minh mà không ai có thể phủ nhận.

Những ai từng bước vào nghiên cứu, thực hành lời Phật dạy một cách chân thành và nghiêm túc; họ đều cảm nhận được nguồn năng lượng an lạc – hạnh phúc thâm trầm, sâu lắng mà người bên ngoài không thể hiểu nổi. Đặc biệt là “Thiền” của đạo Phật có khả năng chuyển hóa thân – tâm con người rất hiệu quả. Có thể nói thiền là bạn đồng hành với con người trong mọi thời đại; nhất là ở thời đại văn minh kỹ thuật số này.

Có người đã đưa ra nhận định xác đáng về những nghịch lý của thời đại; trong đó có câu “thuốc thang nhiều hơn nhưng sức khỏe lại kém hơn, đời sống tiện nghi hơn nhưng căng thẳng hơn,…”

Trong khi sức khỏe, khả năng, đầu óc,… con người không tăng thêm thì mỗi ngày họ đều phải xử lý một lượng công việc, thông tin,… cực lớn để có thể giữ cho nền kinh tế không bị lui sụt, để giữ cho môi trường không bị ô nhiễm,… Đó là chưa kể đến những trò chơi trác táng, cuồng loạn, tệ nạn xã hội, tội phạm,… cũng gia tăng với cấp độ không thể kiểm soát.

Người tốt, kẻ xấu cũng đều bị cuốn theo guồng máy sinh hóa đang hoạt động hết tốc lực của nó. Tất cả đều trở thành áp lực đẩy con người đến căng thẳng cực độ. Con người trở nên mất thăng bằng giữa tâm lý và thân sinh lý, dẫn đến phát sinh nhiều bệnh tật nguy hiểm mới.

Phật dạy: Thân và Tâm luôn có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời. Giống như cái máy vi tính (computer): trong đó, moniter  – CPU và tất cả con chip, dây điện, ổ cứng,… tượng trưng cho thân; còn tất cả phần mềm (dữ liệu) tượng trưng cho tâm. Trong đó, nếu phần mềm bị quá tải, quá nhiều rác hoặc bị trục trặc thì xem như là máy bị hư, không sử dụng được.

Phần cứng cũng có khi hư nhưng rất ít, hết 80 – 90% là hư ở phần mềm. Con người cũng vậy, nếu tâm chứa đựng quá tải thông tin, nhất là những thông tin xấu (do cuộc sống khách quan và chủ quan đem tới), nó sẽ tạo thành một sức ì hoặc xáo trộn trong tâm và sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thân.

Theo lời Phật dạy cũng như theo dữ liệu y khoa thì có từ 60 – 90% bệnh tật đều xuất phát từ tâm lý bất ổn (stress).

Tuy thế, đa số người ta không biết được điều này, cứ mắc bệnh là tìm bác sĩ; làm cho bệnh viện quá tải mà kinh tế gia đình cũng cạn kiệt luôn. Thế nhưng, có khi họ cũng không qua khỏi bàn tay tử thần, rồi gia đình rơi vào khốn khó. Vì họ không biết được, có một thứ sẽ làm cho cuộc sống dễ chịu hơn rất nhiều, đó là Thiền và ngay cả Tịnh và Mật, những pháp môn mà đã được Đức Phật truyền lại từ rất lâu.

Thiền là một nguồn năng lượng dồi dào (không tốn tiền) giúp con người có được một trí tuệ minh mẫn và một sức khỏe cường tráng, ý chí, nghị lực và bản lĩnh hơn. Ngoài ra, Thiền cũng có khả năng chữa được rất nhiều bệnh tật mà nhiều khi y học hiện đại phải bó tay.

Thiền còn có khả năng thanh lọc Thân – Tâm, đem đến cho con người sự sáng suốt, thông minh, lanh lợi, nhạy bén, trí nhớ, sắc đẹp, chống lão hóa,…để họ có một đời sống tự tin, hạnh phúc, khôn ngoan và đạo đức hơn.

Vì những hiệu quả thiết thực của Thiền mà ngày nay khắp nơi trên thế giới, người ta đều mở các trung tâm thiền tập để dạy cho mọi người như ở bệnh viện, bộ quốc phòng, thể thao, trường học, thẩm mỹ viện, trại tù v.v.., và Thiền đã trở thành một lối sống văn minh của thời đại.

Do đó, một số người chưa đủ kinh nghiệm cũng như thực chứng về thiền cũng đua đòi mở ra trung tâm dạy thiền (vì mục đích nào đó) nhưng nhiều khi làm cho người thực hành bị căng thẳng hơn và bị tẩu hỏa nhập ma.

Ở những trung tâm thiền này có nhiều người lành bệnh, không bị tẩu hỏa nhập ma, nếu họ chỉ thực hành thiền mà thôi. Ta nên hiểu rằng: Thiền có lợi ích rất lớn nhưng phải đúng phương pháp; nếu không thì sẽ bị tai họa.

Khi thực hành Thiền và quan sát, chúng ta thấy nhiều người tu Thiền sai phương pháp nên bị bệnh vì, họ để tâm trên đầu quá nhiều làm khí lực chạy lên và bị mất chân Âm nên bị bệnh; có người ngồi thiền chạy theo những ảo ảnh hiện ra trong tâm cũng thành bệnh, có người vọng tưởng quá nhiều thành bệnh; có người tâm không nhiếp được mà vẫn cố ép cho nó nhiếp làm căng thẳng thêm và thành bệnh, hoặc mơ mộng chứng quả, đắc thần thông,… đều thành bệnh.

Thiền rất hay, đó là điều chắc chắn, nhưng vì có nhiều người tu Thiền rồi bị bệnh, hoặc có nhân cách không giống ai nên riết rồi người ta sợ Thiền và chuyển sang tu các Pháp môn khác.

Sở dĩ nói “Thiền Phật giáo” là để phân biệt với các loại thiền “lai căn” (lấy nguồn gốc từ thiền Phật giáo nhưng lại chế biến thành món khác và đặt “thương hiệu”mới). Nhưng cái gì đã bị pha chế thì cái đó kém chất lượng và nhiều khi để lại phản ứng phụ.

Hiện nay xung quanh ta có nhiều loại thiền như: thiền khai mở luân xa, thiền xuất hồn, thiền yoga, thiền nhân điện,… với mục đích là giúp con người có được một thân thể khỏe mạnh,…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cấp độ giới hạn và nhiều bất cập mà chúng ta cần cẩn thận.

Vì thân và tâm là một khối liên lạc không thể tách rời; nếu tâm còn bệnh thì thân làm sao khỏe mạnh bền bỉ được. Theo tâm lý học thì tâm thường biểu hiện ra 6 cảm xúc chính là: Giận hờn, ngạc nhiên, khinh khi, buồn rầu, an lạc và sợ hãi. Trong các tâm lý cảm xúc này, chỉ có “an lạc” là có lợi cho sức khỏe mà thôi. Còn lại những trạng thái khác đều gây bất ổn cho sức khỏe vì bị stress (căng thẳng).

Cơ chế Thiền của Phật giáo

Trong tâm của mỗi người luôn luôn tồn tại những tâm niệm “thiện” và “bất thiện”. Tâm niệm “thiện” như: tâm từ bi, tâm hỷ xả, khoan dung, độ lượng, can đảm, dũng cảm, siêng năng, khiêm tốn,… Những tâm này tạo thành một tâm hồn mạnh mẽ, sảng khoái, nhẹ nhàng. Đồng thời, nó cũng làm cho sức đề kháng của Thân tăng lên, tránh được rất nhiều bệnh tật. Một tâm hồn hiền thiện, sâu lắng, chững chạc,… cũng làm cho thân của người ấy trang nghiêm, quý phái, rạng rỡ, đẹp đẽ hơn rất nhiều.

Ngược lại, những tâm niệm “bất thiện” như: tham, sân, si, hận thù, ganh ghét, đố kỵ, chấp trước, phiền não, kích động,…làm cho não bộ hoạt động hết tốc lực gây căng thẳng,… làm cho thân uể oải, mệt mỏi, mất chất đề kháng và hệ miễn nhiễm của cơ thể suy yếu, bệnh dễ sinh, đôi lúc rất nghiêm trọng.

Tuy nhiên, làm thế nào để loại bỏ được những tâm bất thiện và phát huy được tâm thiện trong mỗi con người; thì đây chính là vai trò của Thiền.

“Thiền là điều phục Tâm

Nhưng muốn điều phục Tâm

Phải điều hòa hơi thở

Muốn điều hòa hơi thở

Phải điều hòa được Thân

Cộng với Phước vô ngần”

(TT.Thích Chân Quang, “khẩu quyết tu thiền”, tr. 20).

Mặc dù, đức Phật là người thành tựu Phật quả bằng con đường Thiền định và giáo dục Thiền cho nhân loại. Nhưng Ngài không bao giờ chỉ dạy Thiền một cách đơn điệu mà luôn luôn dạy kèm với một đời sống đạo đức, chuẩn mực. Nghĩa là phải đầy đủ Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Và thực hành Bát Chánh Đạo, cũng là thực hành Thiền.

Không phải ai thực hành Thiền cũng đạt được kết quả giống nhau; người nào có nội tâm càng thiện lành càng dễ nhiếp tâm hơn. Và nếu nhiếp được tâm thì không những có sức khỏe mà còn có thể đạt đến sơ thiền. Xem hình Thiền và làn sóng não

Brain Wave Frequency (cycles per seconds)

 Hình sóng não giao động:

14-21 cps and higher. 7-14 cps. 4-7 cps. 0-4 cps.

Delta là trạng thái tỉnh lặng nhất, hành giả được xem như đạt đến sơ thiền [ Hồng Quang, sđd, tr. 61 ].

“Chấm dứt các điều ác
Thực hành mọi việc lành
Giữ tâm hồn thanh tịnh
Đó là lời Phật dạy »

(Pháp cú, 183).

Trong « Kinh Thân Hành Niệm » và « Kinh Tứ Niệm Xứ » Đức Phật dạy phương pháp tọa thiền như sau :

« Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập…”

(Trung Bộ Kinh I, “Kinh Tứ Niệm Xứ “).

Hơi thở là mối liên hệ giữa thân và tâm, là mạng mạch của sự sống. Thế nên chỉ cần kiểm soát được hơi thở, biết rõ hơi thở, tự nhiên tâm sẽ yên lắng và dần nhập vào Định. Thật ra, khi một người nhập được định thì không chỉ là đạt được sức khỏe, sắc đẹp, thông minh, trí tuệ,…mà còn xuất hiện nhiều khả năng tâm linh phi thường. Ta gọi là năng lực thần thông.

Có nhiều cách để kiểm soát hơi thở. Cách thông dụng và hiệu quả nhất là Quán sổ tức. Đức Phật dạy là phải biết rõ hơi thở ra vào một cách tự nhiên không cố ý, cũng không điều khiển hơi thở, mà chỉ cần biết rõ hơi thở mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta nên cẩn thận để khỏi rơi vào tình trạng hoang tưởng lúc hành Thiền.

Tổng hợp lời Phật dạy ta có công thức Thiền như sau:

THIỀN = ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC + PHƯƠNG PHÁP + KHÍ LỰC + CÔNG ĐỨC +  SỰ YÊN TĨNH CỦA TÂM

Đời sống đạo đức là đời sống thiện lành, thương yêu, hòa ái, giúp đỡ tha nhân, tâm hồn thanh khiết.

Phương pháp: là phương cách đúng để không bị sai lạc, gây tổn hại cho thân tâm.

Khí lực: theo nguyên tắc (tích lực ở bụng dưới “đan điền” tạo thành nguồn kinh lực mạnh đưa lên não, giúp cho não lưu thông máu huyết đều đặn và dễ nhiếp tâm), có thể đi bộ, chạy bộ hoặc tập luyện khí công,…

Công đức: là phước có được do ta sống vị tha, giúp đỡ người, nghĩ tốt về tha nhân. Phước càng dày thì tâm càng dễ nhiếp.

Mức độ yên tĩnh của tâm: nghĩa là tâm ta lắng vọng tưởng tới đâu thì ta đạt được an lạc, hạnh phúc tới đó.

Nói đến Thiền thì chủ yếu là người ta nói đến “Thiền tọa”. Tuy nhiên ta cũng có thể hành thiền ở mọi lúc, mọi nơi. Cụ thể là qua bốn oai nghi: hành, trụ, tọa, ngọa (đi, đứng, ngồi, nằm). Lúc nào cũng có thể biết rõ được tâm, kiểm soát được hơi thở cả.

Ngoài Thiền Chỉ (giúp cho tâm yên định nhanh) Đức Phật còn dạy Thiền Quán (để xa rời những chấp trước: cái này là Ta, cái này là của Ta,… Các pháp Quán như: Quán từ bi, Quán vô thường, Quán vô ngã, Quán nhân duyên,  Quán khổ, Quán đoạn diệt,…

Tóm lại: Thiền Phật giáo không chỉ giúp cho con người có được sức khỏe tốt, dẻo dai, bền bỉ mà còn cho con người một bộ óc thật linh mẫn. Từ bộ óc này con người có thể đưa nền văn minh của nhân loại đi đến tuyệt đỉnh. Như lời nhận xét của nhà vật lý học lừng danh thế kỷ XX Albert Eintein như sau:

Tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo của toàn cầu, vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học, tôn giáo ấy phải bao quát tất cả về phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đạt căn bản của ý thức, đạo lý xuất phát từ kinh nghiệm. Tổng thể gồm nhiều phương diện trên trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, chỉ có Đạo Phật mới đầy đủ các điều kiện ấy.”

Kính chúc quý vị thân tâm an lạc với THIỀN (9392).

Lê Thị Lựu
——————————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ĐTKVN, “Kinh Trung Bộ I, II, III”, Nxb. Tôn Giáo, 2003
2. Hồng Quang, “Thiền và những lợi ích Thiết thực”, 2013
3. TT.Thích Chân Quang, “Giáo trình Thiền học”, Nxb. Tôn giáo, 2008
4. HT.Thích Minh Châu, “Hành Thiền”, Nxb. Tôn giáo, 2005
5. HT.Thích Chơn Thiện, “Tăng Già Thời Đức Phật”, Nxb. Phương Đông, 2008

Wisteria tim 2014 (19)

Hành Thiền Để Giải Phóng Tâm

Phạm Kim Khánh

(Trích: “Con Đường Cũ Xa Xưa”, Trung Tâm Narada, Seattle, Hoa Kỳ, 1993)


Để kiểm soát, uốn nắn và giải phóng tâm, trong Phật giáo có hai loại thiền.

Theo một lối, thiền hành giả gom tâm vào một điểm và cột chặt tâm lâu dài vào điểm duy nhất ấy để phát triển vắng lặng, an lạc. Danh từ Pàli gọi thiền này là samatha bhàvavà, phương pháp trau giồi tâm nhằm làm cho nó trở nên tĩnh lặng. Ta gọi là thiền chỉ, thiền định hay thiền vắng lặng.

Lối thiền khác là vipassanà, thiền minh sát — cũng gọi là thiền quán hay thiền tuệ — hướng tâm định soi vào đời sống để chứng ngộ thực tướng của vạn pháp. Đại Đức Piyadassi giải thích như sau:

“… Danh từ vipassanà (vi + passanà), trong một biến thể, có nghĩa là “thấy một cách phi thường”, thấy khác với lối thấy thông thường, do hai thành phần “passati” là thấy và “vi” hàm ý đặc biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy, vipassanà là thấy vượt ra ngoài cái gì thông thường, là minh tuệ. Đây không phải là nhìn thoáng qua. Cũng không phải chỉ nhìn bên trên bề mặt, ở mặt ngoài mà nhìn sâu vào bên trong Thực Tại của đời sống. Chính nhờ cái nhìn sâu sắc căn cứ trên tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô nhiễm ngủ ngầm để thành mục tiêu cuối cùng, Niết Bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại thiền mà chính Đức Phật đã tìm ra, đã thực hành, đã thành công và đã ban truyền, trước kia chưa từng có, và ngoài Phật Giáo không có …”

Thiền Vắng Lặng.

Thí dụ như hành giả lấy hơi-thở-ra-thở-vô làm đề mục, trụ tâm vào điểm mà luồng hơi thở ra và thở vào chạm đến — có thể là chót mũi hoặc phía trên môi trên. Khi hành như thế ít lâu hành giả có thể hình dung rõ ràng cảm giác xúc chạm của luồng gió vào nơi đụng ấy. Đó là uggaha nimitta, ấn tượng hình dung. Không để gián đoạn, hành giả cố tâm vào cái hình ảnh phát hiện trong tâm ấy một cách liên tục đến khi phát triển một hình ảnh khái niệm (patibhàga nimitta). Sự khác biệt giữa ấn tượng hình dung (uggaha nimitta) với ấn tượng khái niệm (patibhàga nimitta) là trong ấn tượng khái niệm, hình ảnh phát sanh do tri giác, được thanh lọc trong sạch, sáng sủa như mặt trăng không bị mây che, còn trong ấn tượng hình dung, hình ảnh mù mờ như mặt trăng nhìn xuyên qua lớp mây.

Trong lúc liên tục chuyên chú gom tâm vào khái niệm trừu tượng như vậy năm pháp triền cái tạm thời được khắc phục, hành giả đạt đến mức độ gọi là cận định (upacàra samàdhi).

Vẫn tiếp tục gia công, vào một lúc nào hành giả có thể nhập định (appanà samàdhi, định trọn vẹn) và đắc Thiền (Jhàna), thọ hưởng trạng thái an tĩnh và vắng lặng của tâm an trụ. Hai trạng thái cận định và định chỉ khác nhau ở sức mạnh của các chi thiền. Lúc cận định vẫn có đầy đủ năm chi thiền nhưng năng lực của các chi thiền chưa được vững chắc, giống như em bé tập đi, khấp khểnh bước vài bước rồi té xuống. Đứng dậy đi nữa, rồi té xuống nữa. Khi nhập định rồi thì giống như người lớn mạnh khỏe, đi đứng ngay thẳng, vững vàng. Năm chi thiền – tầm, sát, phỉ, lạc, trụ — đồng thời phát sanh mạnh mẽ bao gồm cái được gọi là Thiền (Jhàna) và năm pháp triền cái tạm thời được chế ngự.

Hành giả tiếp tục gia công và phát triển Nhị Thiền. Đến đây, hai chi thiền đầu tiên — tầm và sát — bị loại đi. Hành giả đã quen thuộc, không còn phải qua hai giai đoạn tầm và sát nữa mà thẳng vào phỉ và lạc rồi đến trụ.

Đến Tam Thiền, chi thiền phỉ bị loại, chỉ còn lạc và trụ. Cuối cùng đến Tứ Thiền, luôn cả lạc cũng không còn mà chỉ có xả (upekkhà) và trụ. Chi thiền xả có tầm quan trọng đặc biệt về mặt đạo đức và tâm lý. Đây không phải là thọ xả, tức thọ vô ký, cảm giác không vui không buồn. Chi thiền xả là trạng thái tâm bình thản giữa những hoàn cảnh thăm trầm của đời sống, phải do một ý chí mạnh mẽ phát triển. Nhận định rằng chi thiền lạc vẫn còn thô kịch, hành giả loại trừ luôn chi thiền ấy như đã loại trừ ba chi thiền trước và trau giồi, phát triển chi thiền xả, đắc Tứ Thiền, tầng cao nhất của Thiền Sắc Giới.

Đã thành tựu tất cả bốn tầng thiền của Thiền Sắc Giới, hành giả chuyên chú gia công trau giồi Thiền Vô Sắc. Trong phần chú giải quyển Abhidhammattha Sangaha, Đại Đức Nàrada viết như sau:

“… Vị hành giả đã có phát triển Thiền Sắc Giới (Rùpa Jhàna) và bây giờ muốn trau giồi Thiền Vô Sắc, bắt đầu gom tâm vào ấn tượng khái niệm (Patibhàga nimitta, đã có đề cập đến ở phần trên). Khi chuyên chú gom tâm như vậy một ít lâu hành giả thấy một đốm sáng nhỏ, yếu, giống như con đôm đốm, phát ra từ đối tượng. Hành giả ước nguyện rằng ánh sáng nhỏ này sẽ lớn lên dần dần cho đến bao trùm toàn thể không gian. Đến đây hành giả không còn thấy gì khác, ngoài ánh sáng này, cùng khắp mọi nơi. Không gian đầy ánh sáng này không có thiệt, không thật sự hiện hữu, không phải là một thực tại, mà chỉ là một hiện hữu, không phải là một thực tại, mà chỉ là một khái niệm. Gom tâm vào đối tượng này hành giả niệm “àkàsa ananto”, không gian vô tận vô biên, cho đến khi phát triển Sơ Thiền Vô Sắc, tầng Thiền Vô Sắc đầu tiên, Không Vô Biên Xứ, cảnh giới không gian vô biên.

“Lấy Sơ Thiền làm đề mục, hành giả tiếp tục gom tâm vào đó và niệm, “vinnanam anantam”, thức vô tận vô biên, cho đến lúc phát sanh Nhị Thiền Vô Sắc, Thức Vô Biên Xứ, cảnh giới thức vô biên.

“Để phát triển Tam Thiền Vô Sắc, Vô Sở Hữu Xứ, hành giả lấy tâm Sơ Thiền Vô Sắc làm đề mục và niệm “natthi kinci”, không có gì hết.

“Tứ Thiền Vô Sắc được phát triển bằng cách lấy Tam Thiền Vô Sắc làm đề mục. Tam Thiền Vô Sắc này vi tế đến độ ta không thể quả quyết rằng có tâm hay không có tâm. Khi chăm chú ít lâu vào Tam Thiền hành giả phát triển Tứ Thiền, Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng.

“Bốn tầng Thiền Sắc Giới khác nhau do các chi thiền. Bốn tầng Thiền Vô Sắc thì khác nhau do đề mục gom tâm. Sơ Thiền và Tam Thiền Vô Sắc có hai khái niệm (pannati). Đó là khái niệm về tánh cách vô biên của không gian và khái niệm về hư vô. Tâm Nhị Thiền lấy tâm Sơ Thiền làm đề mục. Tâm Tứ Thiền lấy tâm Tam Thiền làm đề mục … ”

Hành giả đã tiến đạt đến tuyệt đỉnh của thiền vắng lặng. Tuy nhiên, đến tầng vắng lặng cao siêu cùng tột này hành giả vẫn còn chưa trọn vẹn phát triển đủ ánh sáng trí tuệ để đánh tan đêm tối vô minh ngủ ngầm trong luồng nghiệp. Vô minh và ái dục giống như hai con thú dữ. Hành giả chỉ nhốt trong chuồng mà không diệt. Ngày nào sút chuồng nó sẽ còn là tai hại lớn lao. Vì lẽ ấy hành giả chưa tuyệt đối châu toàn, chưa thoát ra khỏi vòng sanh tử trong Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới), chưa hoàn toàn giải thoát.

Trước ngày Thành Đạo của Bồ Tát Gotama, chỉ có thiền vắng lặng, samatha bhàvanà. Hai vị đạo sư lỗi lạc thời bấy giờ, thầy của Bồ Tát, là những vị đắc thiền cao nhất, lúc ấy chưa ai đạt đến. Các Ngài đã tiến đến mức cùng tột của thiền vắng lặng là Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng. Chắc chắn đây là mức rất cao của tâm định khi hành giả tạm thời trọn vẹn đè nén, khắc phục năm triền cái. Các chi thiền phỉ và lạc phát sanh, đưa đến trạng thái tâm tuyệt đối vắng lặng và an lạc. Nhưng Bồ Tát không thỏa mãn với những thành quả ấy. Đã kiểm soát và khắc phục tâm, tạm thời làm chủ mình, nhưng Ngài nhận định rằng bấy nhiêu đấy chưa đủ. Thú dữ vẫn còn đó. Phải tận diệt mọi nhiễm ô và mọi hoặc lậu mới tuyệt hậu hoạn. Mục tiêu cứu cánh của Ngài chỉ là chứng ngộ Chân Lý Cùng Tột, chứng ngộ Thực Tại, thấy sự vật đúng như sự vật là như vậy, tức là chứng ngộ ba đặc tướng của các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã. Chính nhờ trí tuệ trực giác này mà Bồ Tát đập vỡ tung cái vỏ Vô Minh dày cứng đã bao phủ Ngài từ vô lượng kiếp để vượt đến Thực Tại, để chứng ngộ tận tường và trọn vẹn Bốn Chân Lý Cao Thượng “trước kia chưa từng được nghe”.

Thiền Minh Sát.

Pháp hành mà chúng ta thảo luận đến đây là chú niệm, gom tâm an trụ vào một điểm duy nhất và không biết gì ngoài điểm ấy. Có một pháp định tâm khác, gọi là Thiền Minh Sát, không hạn chế đối tượng của niệm bằng cách chỉ chú tâm vào một đối tượng bất di dịch mà hướng tâm vào những trạng thái luôn luôn biến đổi của tâm và thân, ghi nhận bất luận hiện tượng nào xảy diễn đến mình. Công phu hành thiền của hành giả là giữ chú niệm của mình bám sát vào bất luận gì mình tri giác, nhưng buông bỏ tất cả, không bám níu gì hết. Trong khi tu tập theo dõi ghi nhận như vậy tâm định của hành giả càng lúc càng kiên cố cho đến một lúc nọ trở thành nhất điểm tâm, vững chắc trên mỗi điểm của luồng trôi chảy luôn luôn biến đổi của sự vật. Mặc dầu đối tượng đổi thay, di động như thế nào, tâm nhất điểm của hành giả luôn luôn an trụ vững vàng vào đó. Tâm định vừa vững chắc vừa di động này được phát triển bằng cách thực hành Tứ Niệm Xứ: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, đây là “con đường duy nhất để chúng sanh tự thanh lọc, để diệt trừ đau khổ, để thành đạt trí tuệ và để chứng ngộ Niết Bàn.”

Khác biệt giữa Thiền Vắng Lặng và Thiền Minh Sát.

Thiền Vắng Lặng là pháp môn nhằm đè nén năm triền cái và định tâm trong một đối tượng nhất định. Tâm phỉ lạc đưa đến chứng đắc các tầng Thiền Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Thiền Minh Sát đưa đến một loại trí tuệ nhận thức rõ ràng ba đặc tướng của các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã.

Trong thiền vắng lặng, hành giả chọn và xử dụng một trong số các môn, như nhãn môn hay ý môn. Còn các môn khác thì không dùng. Trong thiền minh sát, hành giả không nhất thiết chọn một đề mục nào mà dùng cả sáu môn cùng với sáu đối tượng của nó.

Trong thiền vắng lặng, khi hành giả chọn đề mục, dùng tâm quán tưởng ở trong đề mục ấy cho đến lúc tâm có đủ năng lực đè nén năm triền cái, năm chi thiền dần dần hiện rõ, tâm an trụ vững trong đề mục và cuối cùng chứng đắc các tầng Thiền (Jhàna). Năm triền cái đối nghịch với thiền vắng lặng vì là chướng ngại, cản trở tâm an trụ, nhưng không đối nghịch với thiền minh sát. Niệm về năm triền cái, tức lấy sự hay biết năm chướng ngại tinh thần này làm đề mục thiền, là một phần của Niệm Pháp.

Đối tượng của thiền minh sát là thực thể pháp trong thời hiện tại, những gì thật sự xảy diễn trong khoảnh khắc hiện tại. Đối tượng của thiền minh sát là Tứ Niệm Xứ. Các đối tượng chế định, do hành giả tự tạo như ấn chứng, cảm giác hay hình ảnh v.v… không thể dùng làm đối tượng thiền minh sát, chỉ dùng làm đối tượng của thiền vắng lặng.

Dầu thiền vắng lặng và thiền minh sát có sự khác biệt nhau song thiền vắng lặng có thể làm nền tảng cho thiền minh sát như trường hợp Đức Phật. Ngài tiến cao đến mức cùng tột của thiền vắng lặng là Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng rồi xả thiền, quán chiếu thân và tâm Ngài, dùng chi thiền phỉ, lạc v.v… làm đối tượng và thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã. Đó là “thiền minh sát dùng thiền vắng lặng làm nền tảng.”

Ta cũng có thể trực tiếp hành thiền minh sát mà không qua thiền vắng lặng, như chỉ quán niệm theo bốn oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi.

Để giải đáp một câu hỏi về sự khác biệt giữa thiền vắng lặng và thiền minh sát, Ngài Acharn Chah — một thiền sư danh tiếng ở Thái Lan — nói:

“… Thật dễ hiểu. Thiền vắng lặng và thiền minh sát cùng đi chung với nhau. Trước tiên, do nhờ pháp hành gom tâm an trụ vào đề mục, tâm trở nên an tĩnh, vắng lặng. Tâm chỉ vắng lặng trong khi ta ngồi thiền. Đó là thiền vắng lặng. Căn bản tâm định sẽ khởi duyên, tạo điều kiện cho trí tuệ, tuệ minh sát, phát sanh. Đến mức độ này tâm luôn luôn vẫn an tĩnh, dầu ta ngồi nhắm mắt tham thiền nơi vắng vẻ hay đi bách bộ giữa phố phường nhộn nhịp. Nó là vậy. Ngày nào còn là trẻ con, giờ đây lớn khôn. Ta là người đứng tuổi. Em bé thủa nào và người đứng tuổi hiện nay có phải là một không? Có thể nói là một. Hoặc, theo một lối nhìn khác, có thể nói là hai người khác biệt. Cùng thế ấy, ta có thể tách rời thiền vắng lặng và thiền minh sát.

“Chớ tin Sư bằng lời. Hãy thực hành đi, rồi tự mình sẽ thấy. Không cần phải làm gì đặc biệt. Nếu chăm chú quan sát, nhin xem trạng thái vắng lặng và trí tuệ phát sanh thế nào, quý vị sẽ tự bản thân thấu đạt chân lý. Trong những năm sau này người ta quá chú trọng đến danh từ. Họ gọi pháp hành của họ là minh sát và coi rẻ thiền vắng lặng. Hoặc họ gọi thiền của họ là vắng lặng và hãnh diện nói rằng muốn thành công thiền minh sát phải trải qua giai đoạn hành thiền vắng lặng. Tất cả những lời qua tiếng lại ấy là điên cuồng. Chớ nên bận tâm suy tư. Chỉ giản dị hành. Tự mình sẽ thấy ….”

Phạm Kim Khánh (1993)
Narada Center, Seattle, USA

Chuyển đến trang:  1  2  3  4  5  7  6