Vu Lan 1

Recent Pages:  1   3  4  5  6  6a 6b 7 8

Vuon hong August, 2014 (8)

Công cha nghĩa mẹ

Công cha như núi thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Ca Dao

Bập bẹ ngày biết nói,
Vuốt đầu con mẹ hỏi :
Thương cha con để ở đâu ?
Tình cha con chất trên đầu thật cao.

Thương mẹ, mẹ chẳng hỏi,
Riêng con, con không nói.
Nhưng mà mẹ có biết không?
Thương mẹ con dấu trong lòng con mang.

Tập viết mẹ cầm tay,
Mẹ dạy chép câu này :
Công cha nhiều lắm con ơi,
Này con hãy nhớ vào đời mang theo.

Công cha cố đáp đền,
Nghĩa mẹ có đâu quên.
Công cha con chép sổ dầy,
Nghĩa mẹ con khắc tầng mây lưng trời.

Paris, 20.08.92
Hoang Phong

Vuon hong Portland August 2, 2014 (1)

Ngày kết nối yêu thương

Thích Thông Huệ

Vu Lan là ngày thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hóa đạo đức tâm linh, văn hóa đạo đức tình người. Ngày lễ hội này đã ăn sâu trong lòng mỗi người dân Việt, cũng như sự ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp cộng đồng nhân loại, thắm đượm tinh thần từ bi của Đạo Phật.

Mỗi năm đến mùa Vu Lan, trong lòng chúng ta lại rộn lên một niềm hiếu hạnh, nhớ thương cha mẹ nhiều hơn. Đây là dịp làm ấm lại ân tình ân nghĩa sâu đậm của cha mẹ, công ơn sanh thành dưỡng dục nặng tợ cù lao, để rồi trong mỗi thời khắc của cuộc sống, chúng ta không bao giờ quên ơn cha mẹ dù còn sống hay đã khuất. Không phải đợi đến Rằm Tháng Bảy chúng ta mới cảm thấy thương nhớ cha mẹ, mà phải tâm niệm rằng ngày nào, giờ nào, phút nào, tình yêu thương cha mẹ vẫn luôn chứa chan trong lòng mỗi người con hiếu hạnh.

“Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng,

Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao”.

Vu Lan là ngày thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hóa đạo đức tâm linh, văn hóa đạo đức tình người. Ngày lễ hội này đã ăn sâu trong lòng mỗi người dân Việt, cũng như sự ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp cộng đồng nhân loại, thắm đượm tinh thần từ bi của Đạo Phật. Ngày Vu Lan không chỉ dành riêng cho người phật tử hay trong Đạo Phật, mà còn là mùa lễ hội văn hóa của tình người, mở rộng tâm hồn để kết nối nhịp cầu yêu thương với mọi người và tất cả chúng sanh trong cùng khắp pháp giới. Tinh thần ảnh hưởng của ngày lễ hội thù thắng này có tác dụng rất mạnh mẽ trong xã hội, mang tính nhân văn cao cả, suy tiến mọi ân tình ân nghĩa trong cuộc sống, khuyến khích mọi người sống có luân thường đạo lý theo quy luật vận hành tự nhiên của nhân quả.

Khi Đạo Phật du nhập vào nền văn hóa nước ta, bên cạnh những lời dạy đầy minh triết của Đức Phật nhằm chuyển hóa thân tâm, đạt đến mục tiêu tối thượng là giác ngộ giải thoát, thì tinh thần của ngày lễ Vu Lan cũng dần dần trở thành ngày lễ hội truyền thống của dân tộc. Dầu có bề bộn công việc gì, đến ngày này chúng ta đều về chùa, dự vào pháp phần của Phật, nghe quý thầy giảng về công ơn cha mẹ, cách báo hiếu, đền ơn đáp nghĩa, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa trong đời sống đạo đức tâm linh. Mỗi chúng ta đều mang trong mình dòng máu của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. “Mộc bổn thủy nguyên”, ai ai cũng có nguồn cội gốc gác của mình.

“Cây có cội mới trổ cành xanh lá,

 Nước có nguồn mới tỏa khắp rạch sông”.

Vu Lan được xem là “ngày về nguồn”, là dịp để truy niệm nguồn gốc hiện hữu của mình trên thế gian, và những ân tình đã cưu mang chúng ta tồn tại, phát triển trong cuộc đời này. Sự sống của chúng ta được tiếp diễn bằng những mối tương duyên, tương quan của mọi người xung quanh, thân hoặc sơ, trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng ta. Không một ai có thể tự tách rời ra mà tồn tại được. Đây là tinh thần nhân văn cao cả thể hiện trong ý nghĩa về lý nhân duyên sinh, trùng trùng duyên khởi. Nếu mọi người đều hiểu được đạo lý này, mình vì mọi người, mọi người vì mình thì xã hội  sẽ tươi đẹp, thấm đượm tinh thần từ bi, vô ngã vị tha của Đạo Phật.

Tất cả chúng ta có mặt trên cõi đời này đều do công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Từ thuở bé, cha mẹ đã lo cho ta từng cái ăn, cái mặc. Đến khi lớn lên, lại lo cho chúng ta đến trường trau dồi kiến thức, mai sau có công danh sự nghiệp cho mình tiến thân. Không những thế, cha mẹ sợ chúng ta hư hỏng nên hướng vào môi trường đạo đức tâm linh, đưa đến chùa quy y Tam Bảo, biết cách ăn ở hiền thiện, để từ đó chúng ta làm hành trang bước vào đời một cách tự tin và vững chãi. Vì vậy, công ơn cha mẹ thật vô bờ bến, mà bổn phận mỗi người con phải tự mình ghi khắc trong tim. Nếu chúng ta không thương cha mẹ một cách chân tình thì đối với những ân tình ân nghĩa khác trong xã hội, chúng ta cũng không thể báo đáp trọn vẹn. Giả chăng nếu có, cũng chỉ là một hình thức vụ lợi để mưu cầu cho riêng mình.

Có thể nói, hiếu đạo là nền tảng đạo đức của xã hội loài người, là nền móng căn bản hướng đến lầu cao trí tuệ, là tiêu chí căn bản của người tu. Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, Đạo hiếu tức là Đạo Phật. Là người phật tử đến chùa tụng kinh, làm mọi việc thiện lành, lại sống bất hiếu, đối xử tệ bạc với cha mẹ thì không xứng đáng là người đệ tử Phật. Trong kinh, Đức Phật dạy: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật”. Đức Phật đã nâng địa vị của cha mẹ lên ngang tầm với Ngài, xem cha mẹ tại tiền như Phật tại thế mà hết lòng phụng thờ, nuôi dưỡng cho trọn đạo làm con. Như thế, chúng ta có thể hất hủi, xem thường cha mẹ mình chăng? Thơ ca dân gian cũng đã truyền tụng:

“Cha già là Phật Thích Ca,

Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm.

Nhớ ngày xá tội vong nhân,

Lên chùa lễ Phật đền ơn sanh thành”.

Sự hiếu thảo của con cháu là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của cha mẹ khi tuổi đã xế chiều. Đối với người già, các nhu cầu tiêu thụ về đời sống vật  chất không nhiều, điều cần thiết nhất là niềm vui tinh thần khi được nhìn thấy con cháu ngoan hiền, gia đình đông đủ, sum họp vui vầy hạnh phúc bên nhau. Vì vậy, khi cha mẹ còn sống, chúng ta nên hết lòng phụng dưỡng, thường xuyên lui tới hỏi han, thăm nom, chăm sóc để không phải hối tiếc về sau khi cha mẹ đã lìa đời. Chúng ta đến chùa, học hiểu phật pháp rồi đem về Phật hóa gia đình, làm cho gia đình hạnh phúc, xã hội bình an phúc lạc.

Bất hạnh thay cho những ai không còn cha mẹ hiện hữu trên đời để vỗ về sưởi ấm con tim, không còn dịp để phụng dưỡng, đền đáp thâm ân cao vời của cha mẹ, thì đến ngày Vu Lan nên một lòng chí thành tưởng nhớ về hai đấng sanh thành với niềm tôn kính nhất, phát tâm làm mọi điều thiện lành, sống tốt đời đẹp đạo, hồi hướng công đức cho cha mẹ sớm siêu sanh về cõi giới an lành. Đó cũng là cách báo đáp công ơn cha mẹ khi người đã khuất.

“Nếu mình hiếu kính mẹ cha,

Mai sau con hiếu với ta khác gì.

Nếu mình ăn ở vô nghì,

Đừng mong con hiếu làm gì uổng công”.

Từ cổ chí kim, Đông phương hay Tây phương đều suy tiến đạo hiếu. Tinh thần của ngày lễ Vu Lan được thể hiện trên ba phương diện: lòng biết ơn công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, phương pháp báo đáp công ơn đó và nhân quả tất yếu của đạo hiếu. Chúng ta nên biết, hiếu kính phải đi đôi với hiếu dưỡng. Lòng biết ơn cha mẹ phải được thể hiện bằng những hành động việc làm cụ thể, phụng dưỡng cha mẹ về vật chất lẫn tinh thần, có như vậy mới đầy đủ ý nghĩa tri ân và báo ân. Từ những ý nghĩ và hành động báo hiếu đó sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp cho những người con hiếu thảo. Vì thế, ngày Vu Lan cũng là dịp để suy tiến đạo lý nhân quả, khuyên mọi người sống hay, sống đẹp, sống có ý nghĩa. Sống là môt nghê thuật. Chúng ta phải sống hiếu thảo với cha mẹ, hiếu kính với người trên, hiếu hòa với kẻ dưới, hiếu thuận với mọi người và hiếu sinh với vạn loại. Như vậy, ngày lễ hội Vu Lan mang nhiều ý nghĩa giá trị luân lý đạo đức, đề cao mọi ân tình ân nghĩa trong cuộc sống nhân sinh và vạn loại.

Vu Lan là nhịp cầu yêu thương, được truyền thông từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Chúng ta không chỉ nhớ ơn những người đang cưu mang mình mà còn tri niệm công ơn của những người đã khuất như cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, thất thế phụ mẫu, hay những chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, những người đã hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do của tổ quốc, để hôm nay chúng ta được sống trong cảnh thái bình, no ấm. Nhiều đàn tràng chẩn tế, cầu siêu bạt độ, chẩn thí âm linh… được các cấp Giáo hội và chính quyền tổ chức tại các tỉnh thành cũng nhằm mục đích thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa cao đẹp này.

Tinh thần của mùa lễ hội Vu Lan giáo dục lòng nhân ái đối với kẻ còn người mất, khơi mở tấm lòng độ lượng bao dung trong mối quan hệ tương duyên giữa mình và vạn loại. Tình yêu thương đất nước, giống nòi, đạo pháp, dân tộc, tinh thần tôn sư trọng đạo, yêu thương cha mẹ, mọi người, mọi loài… được suy tiến trong mọi khía cạnh đạo đức của xã hội vào dịp Đại lễ Vu Lan. Đây cũng là dịp thể hiện tinh thần cứu khổ độ sanh, mang thông điệp từ bi của Đạo Phật vào đời, chuyển hóa khổ đau, kết nối nhịp cầu yêu thương, xây dựng xã hội ngày thêm tươi đẹp, bình an, phúc lạc.

.
Thiền Viện Trúc Lâm Viên Ngộ
Phan Rang – Ninh Thuận.

Mùa Vu Lan – PL. 2554

Hoa hong vang va bai tho Vu Lan

Ý NGHĨA VU LAN

HT. Thích Thanh Từ

Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp. Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó là không biết đạo nghĩa.

Ngày lễ Vu lan nói theo nhà đạo là ngày Tự tứ của chúng Tăng. Chữ Tự tứ nói đủ là Tự tứ thỉnh, nghĩa là thỉnh cầu những bậc trưởng thượng chỉ dạy mọi lỗi lầm cho mình. Những lỗi lầm đó hoặc là các ngài thấy, các ngài nghe cho đến chưa thấy, chưa nghe mà chỉ nghi thôi cũng cứ chỉ.Nếu mình thấy đó là lỗi thật thì mình thành tâm sám hối chớ không dám cãi, không dám bỏ qua. Bởi vậy nên ngày này chư Phật rất vui vì thấy chúng đệ tử có tâm hồn phục thiện, biết cải hối những lỗi lầm. Do đó cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ. Đó là ý nghĩa thứ nhứt.

Ý nghĩa thứ hai, ngày này là ngày gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật. Bởi vì theo tinh thần kinh Vu Lan, ngày rằm tháng Bảy chính là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên tìm thấy mẹ đang sinh trong kiếp ngạ quỷ khổ đau, mà tự bản thân Ngài cứu không được. Ngài mới nhờ Phật chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ.

Nhân đó Phật dạy muốn cứu mẹ thoát khỏi tai ách, phải nên cúng dường chư Tăng, Ni. Nhờ lực gia trì của Tăng, Ni phụ giúp cho mẹ Ngài chuyển đổi tâm ác, thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Với lòng thành kính của người con thảo, Ngài đã thực hiện đúng những lời Phật dạy và mẹ Ngài cũng thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Chính nhờ lòng thành đó mà đến rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của chúng Tăng, Phật dạy chúng ta nên cúng dường chư Tăng, nhờ chư Tăng phụ lực mà thân mẫu trong nhiều đời được siêu thăng. Nên ngày này còn gọi là ngày Báo hiếu.

Trong mùa này, mỗi Phật tử chúng ta nhớ lại công ơn cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng cực khổ, cho nên chúng ta nhờ sức chú nguyện của chư Tăng, Ni, nếu cha mẹ có sa vào đường khổ thì nhờ phúc đức này được thoát khỏi. Còn nếu cha mẹ không đi trong đường khổ thì nhờ phúc đức này mà được tăng trưởng thiện căn. Nếu cha mẹ hiện tiền cũng nhờ đó mà tăng trưởng tuổi thọ và phát tâm Bồ đề. Đó là ý nghĩa báo hiếu của người con Phật.

Bởi vậy ngày Vu lan còn có tên là ngày xá tội vong nhân. Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày mà mọi người đều ăn năn, xin cải đổi sám hối, mong các vị lớn tha thứ cho. Nhờ ý nghĩa tha thứ những lỗi lầm đó nên cũng chính ngày này chư Tăng, Ni thành tâm cầu nguyện cho các vong nhân được khỏi những kiếp khổ đau.

Tôi đã kể sơ qua về ý nghĩa của ngày lễ Vu lan rồi. Bây giờ đi sâu hơn về hạnh hiếu của người con Phật. Nhiều khi quý Phật tử thắc mắc, Phật dạy làm con phải hiếu thảo với cha mẹ nhưng quý thầy, quý cô lại bỏ cha bỏ mẹ đi tu, như vậy là bất hiếu rồi, làm sao dạy Phật tử có hiếu được?

Không phải vậy. Mới nhìn chúng ta thấy như là bất hiếu nhưng trái lại là chí hiếu. Tại sao? Vì đi tu không có nghĩa là tìm nơi an nhàn để thụ hưởng yên ổn cho riêng mình, mà vì thương cha thương mẹ, thương chúng sinh; muốn tu làm sao tự bản thân mình giải được những phiền não khổ đau, rồi sau đó giúp cha mẹ và hướng dẫn mọi người hướng về con đường đạo đức, bỏ đi những điều tội lỗi.Đó là đền đáp công ơn cha mẹ.

Theo thế gian, hiếu thảo với cha mẹ là lo đủ mọi thứ, nào là cơm ăn, áo mặc, giường chõng, thuốc men… nhưng có người nào lo mà cha mẹ khỏi chết không? Dù nuôi kỹ cách mấy rồi chết cũng phải chết. Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta không chỉ có mặt ở một đời này mà còn có mặt ở vô số kiếp về trước và sau nữa, nên mất thân này sẽ mang thân khác.

Do đó nếu ngay thân này không biết làm lành thì e rằng đời sau sẽ đọa những đường khổ. Bởi vậy người tu phải làm sao thức tỉnh cha mẹ hướng về con đường lành, để cho cha mẹ có mất đi thì sẽ được hạnh phúc, an vui trong những đời sau.

Tôi thí dụ như cha mẹ năm sáu mươi tuổi, có con mười mấy tuổi phát tâm đi tu, ban đầu cha mẹ buồn trách nhưng sau đó lại tự xấu hổ. Vì nghĩ rằng con mình còn nhỏ nhưng không ham ăn, không ham danh lợi còn mình già rồi mà vẫn chưa thức tỉnh.

Nghĩ vậy, tự nhiên mình cũng bắt chước, lần lần bớt ham ăn, lại tập ăn chay, bớt ham danh lợi, nhờ vậy mình tu từ từ.Rõ ràng, lúc đầu thì thấy con như dở nhưng càng về sau lại thấy càng hay. Cho nên phần nhiều những gia đình có con đi tu thì dần dần cha mẹ và gia quyến cũng bắt chước tu theo. Đó là tinh thần hiếu đễ của người xuất gia.

Ngườiở thế gian cứ nghĩ nuôi cha mẹ được ấm no, đầy đủ là có hiếu nhưng quên rằng tuổi thọ cha mẹ có giới hạn, tới mức độ nào rồi cũng phải đi. Cho nên làm sao vừa lo cho hiện tại được ấm no mà nghĩ tới tương lai, sau khi cha mẹ bỏ thân này được thân sau cũng phải sáng sủa, tốt đẹp hơn nhiều. Đó mới gọi là người biết lo chân chính, lâu dài. Như vậy tinh thần của người tu không phải là bỏ cha mẹ mà là thương cha mẹ. Vì muốn hướng cha mẹ về đường lành, hướng thân quyến phát tâm Bồ đề nên mới đi tu.

Với truyền thống người Việt Nam ta, hiếu thảo là một điều rất thiêng liêng, rất cao cả. Ai biết hiếu thảo với cha mẹ thì mới có thể là một con người tốt ở trong xã hội. Cho nên hiếu thảo là một nền tảng đạo đức rất cần thiết. Thuở xưa cha ông chúng ta cũng từng răn dạy những điều đó. Tôi dẫn một ít đoạn trong ca dao, tục ngữ để quý vị thấy hiếu thảo là một điều hết sức quan trọng:

Nuôi con chẳng quản chi thân
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn
Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ.

Qua bốn câu này, quý vị thấy người bình dân Việt Nam đối với công ơn cha mẹ rất là thắm thiết. “Nuôi con chẳng quản chi thân”, khi cha mẹ nuôi con thì không nghĩ gì tới mình hết, miễn con khỏe mạnh là cha mẹ vui. Con bệnh hoặc bị phiền não hay tật nguyền gì đó thì cha mẹ buồn khổ.Cha mẹ muốn hy sinh thân mình cho con được khỏe mạnh.

Dù cực khổ, khó khăn đến mấy cũng vẫn không nề, không chán. Câu sau “Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, thật thấm làm sao! Những năm trước bốn mươi lăm, ở Việt Nam mình kinh tế rất là chật vật, quý vị nào có ở miền quê mới thấy cảnh cha mẹ nghèo ở nhà lá rách, giường chiếu chỉ có một đôi thôi. Con nhỏ chừng một, hai tuổi ban đêm có bệnh hay đái dầm. Khi đái dầm thì ướt, ướt mà không có chiếu thay nên mẹ nằm bên ướt, để con chỗ khô ráo cho nó ngủ ngon.

Cái tình của người mẹ quê như vậy, người không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ làm sao cho con ngủ ngon giấc, con được khỏe mạnh, con chóng lớn lên. Người mẹ xưa đã sống trong cảnh cơ cực đó nên mới nói lên được câu này “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”.

Người mẹ lúc nào cũng trải thân mình cho con cái, quên cả mọi khổ sở, mọi đau đớn, miễn làm sao cho con ăn ngon ngủ được, đó là yên lòng mẹ.

Cha mẹ đối với con đã không kể thân, không nghĩ tới phần của mình thì làm con cái phải làm sao? Chúng ta là con, muốn đền được ơn đó thì phải nhớ câu “biết lấy chi đền nghĩa khó khăn, lên non xắn đá xây lăng phụng thờ”. Khi cha mẹ chết rồi mình mới lớn khôn, nhớ ơn cha mẹ không biết làm sao cho nên cạy đá, xây lăng thờ cha phụng mẹ, đó là nói theo người thế gian.

Còn nói theo tinh thần đạo Phật thì nếu cha mẹ chết rồi, chúng ta ráng làm điều lành, điều phước để hồi hướng cho cha mẹ. Nếu cha mẹ còn sinh tiền, chúng ta lo lắng cho cha mẹ được ấm no, được hạnh phúc, biết quy hướng về Tam bảo, đó là bổn phận của người con hiếu.

Lại một bài nữa:
Công cha nghĩa mẹ cao vời
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
Nên người, ta phải xót xa
Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

Nghĩa là công ơn cha mẹ rất cao vời, không có gì sánh được. Cha mẹ có khi nào nghĩ rằng tôi nuôi nó chừng ba năm, bảy năm rồi bỏ nó muốn ra sao thì ra đâu. Từ thuở còn bé, nằm nôi cho tới khi lớn khôn, có đôi bạn, có con, vẫn cứlo. Hết con tới cháu, cho tới đầu bạc phơ, rồi tới ngày tắt thở mới thôi.

Như vậy để thấy thâm tình cha mẹ đối với con không biết bao nhiêu mà kể. Như vậy bổn phận làm con ta phải làm sao?“Nên người, ta phải xót xa”, khi lớn khôn rồi nghĩ đến công ơn cha mẹ như trời cao, biển rộng. Ân nghĩa đó nặng nề sâu thẳm chớ không phải là thường.

Cho nên người Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp. Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó là không biết đạo nghĩa. Trong đạo Phật thường nhắc nhở,trong năm tội ngũ nghịch thì tội bất hiếu với cha mẹ là đầu.

Tôi dẫn một câu chuyện hiếu thảo hơi lạ để quý Phật tử thấy rõ ý nghĩa công ơn cha mẹ như đã nêu. Ngày xưa có anh chàng nọ vừa dở, vừa không gặp thời, làm ăn đâu thất bại đó. Gia đình một vợ năm bảy con, nuôi không xuể, thiếu hụt đủ thứ. Cạnh bên có người láng giềng rất hào hiệp, mỗi khi anh túng quẫn anh qua nhà ấy vay mượn, mượn rồi không có tiền trả. Thời gian sau túng quẫn nữa anh lại qua nữa, nhưng rồi cũng không có tiền trả.

Tuy nhiên người hảo tâm kia vẫn cứ cho mượn hoài, đến khi anh nhà nghèo già và chết. Khi ấy anh bị lôi xuống Diêm vương, ngục tố tra khảo sổ sách thì thấy anh nợ người láng giềng quá nhiều, Diêm vương liền ra lệnh: “Bây giờ chú mầy phải sinh trở lại làm trâu kéo cày để đền trả nợ trước”. Anh chàng đó nói:

– Không được, cho làm trâu không đủ trả, xin cho tôi làm cha nó mới đủ trả.

Diêm vương ngạc nhiên quá:

– Tại sao đã thiếu nợ người ta mà còn đòi làm cha người ta nữa?

Anh chàng liền giải thích:

– Nếu làm trâu thì sống bảy tám tuổi, cao lắm mười hai tuổi là chết. Mười hai năm kéo cày trả nợ không đủ. Chỉ có làm cha là tôi lo cho đến hết đời, nuôi nấng họ đến hết đời. Hết đời tôi rồi, còn dư bao nhiêu tiền của để lại cho họ luôn. Nếu tôi còn sống dai thì nó có cháu, có chắt tôi cũng nuôi tất. Như vậy mới khả dĩ trả hết bởi nợ to quá.

Như vậy quý vị thấy làm cha còn nặng hơn làm trâu nữa. Vì làm trâu chỉ giới hạn bảy tám năm hay chín mười năm thôi, còn làm cha là suốt một đời, trả hoài cho đến đời cháu nữa. Và có ai chửi mắng gì mình cũng nhận chịu luôn. Nhận hết mọi việc như vậy mới đủ trả.

Câu chuyện có tính cách khôi hài, nhưng qua đó chúng ta thấy công ơn của cha mẹ không thể kể hết, phải không? Cho nên người ta bảo kiếp làm cha mẹ đối với con còn hơn kiếp trâu ngựa nữa chớ không phải là vừa. Vậy mà nhiều khi con không nhớ, không biết, còn phụ rẫy, bạc bẽo lại với cha mẹ nữa. Thật là tội lỗi biết bao!

Đã không biết ơn cha mẹ thì ơn xã hội chắc càng không biết. Nếu người không biết ơn nghĩa gì hết thì con người đó gọi là con người gì? Con người vô ơn bạc nghĩa! Đã là người vô ơn bạc nghĩa thì còn dùng được chỗ nào?

Bởi vậy muốn thành một người tốt đối với xã hội, trước hết chúng ta phải là người con hiếu thảo với cha mẹ. Do biết thương cha mẹ nên mình không đánh lộn, cãi lộn, hút thuốc, uống rượu, làm những việc hư thân khiến cha mẹ buồn. Nhờ thế mà mình thành một người tốt trong xã hội. Thế nên hiếu thảo là bước đầu để xây dựng gia đình tốt đẹp, xã hội văn minh, quốc gia cường thịnh.

Source: thuvienhoasen

THƯ PHÁP – BÔNG HỒNG CÀI ÁO
ĐĂNG HỌC

Uploaded by DARIAN DANG

CHA MẸ VÀ CON CÁI

QUA CÁI NHÌN NHÂN DUYÊN