Home

 Nov 14 – 2014

TS. Thich Nhat Hanh (33)

Tay thầy trong tay con

Những lá thư thầy viết cho đệ tử

Tay thầy trong tay conTrong kinh Lăng Nghiêm, ở chương Đại Thế Chí Niệm Phật, ta được học rằng trong khi mẹ nhớ con và đi tìm con, nếu con cũng nhớ mẹ và đi tìm mẹ thì thế nào mẹ và con cũng tìm được nhau và hai mẹ con sẽ không bao giờ xa nhau. Điều này cũng đúng với liên hệ thầy và đệ tử: nếu thầy có chủ tâm đi tìm đệ tử trong khi đệ tử cũng có chủ tâm đi tìm thầy thì chắc chắn là thầy và đệ tử sẽ gặp nhau. Thầy tìm được con thì thầy nắm tay con để đi trên con đường thực tập, con trở thành thầy và thầy có trong con. Và như thế trong tay con đã có tay thầy.

Bài kệ xưng tán Pháp Hoa như sau:

Đêm tụng kinh Pháp Hoa
Tiếng xao động tinh hà
Địa cầu vừa tỉnh giấc
Lòng đất bỗng đơm hoa

Đêm tụng kinh Pháp Hoa
Bảo tháp hiện chói lòa
Khắp trời Bồ tát hiện
Tay Bụt trong tay ta

Tay thầy trong tay conTay Bụt trong tay ta có nghĩa là ta được nắm tay Bụt mà đi. Cũng có nghĩa là trong tay ta đã có tay Bụt. Bụt và ta không còn là hai thực tại riêng biệt. Ta và Bụt bất nhị. Lúc ấy thì hạnh phúc ta rất lớn.

Những lá thư thầy viết cho con là để trao truyền cho con. Trao truyền cái gì? Không phải một mớ kiến thức, một mớ giáo lý. Thầy trao truyền cho con chính bản thân của thầy. Và nếu con biết cách tiếp nhận thì thầy trở thành con và con trở thành thầy. Đó là nguyên lý Tam Luân Không Tịch: người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận không phải là ba cái riêng biệt, mà chỉ là một cái.

Đọc những lá thư thầy viết, ta thấy được ta, và ta thấy ta trong thầy và thầy trong ta. Liên hệ thầy trò trở nên bất diệt nhờ ta có được cái thấy Tam Luân Không Tịch. Nhờ thầy mà ta tiếp cận được với Bụt và Tổ, nhờ ta mà thầy có thể đem Bụt và Tổ đi về tương lai.

Tình thầy trò là như thế. Tuyển tập những lá thư thầy viết cho con sẽ còn được tiếp nối dài dài…

Thầy,
Thất Ngồi Yên,Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2010.

Tay thầy trong tay con - 1

Lời giới thiệu

Chúng ta đang cầm trên tay món quà quý – Tuyển tập những lá thư thầy viết cho đệ tử. Mỗi lá thư là một chứng tích của tình Thầy, chứa đựng trọn vẹn những gì Thầy muốn trao truyền. Những lá thư ấy không bị giới hạn bởi thời gian, do vậy không xếp theo trình tự thời gian để ta có thể đón nhận mỗi lá thư trong một hình thức mới, nội dung trao truyền được sống dậy trong thời khắc mà ta đang đọc.

Trong sách chúng ta cũng góp được những thông bạch mà Thầy gởi trong những năm qua, mỗi thông bạch như những khuôn thước nền tảng thực tập. Và phần cuối là “câu chuyện người con trai khờ dại” được Thầy viết tại Phương Bối- Bảo Lộc, Lâm Đồng năm 1961. Đọc câu chuyện để ta cảm thêm sự rộng lớn của tình Thầy qua những lá thư. Chúng ta thấy người con trai trong câu chuyện là một người rất thật và cho đến nay chưa một lần từ chối làm người “khờ dại” cho tình thương.

Đây là mối tình Thầy gởi cho người học trò mà cũng cho quê hương, cho nhân loại. Tình thương ấy đã được trao truyền, được tiếp nối và làm nền tảng cho công trình xây dựng con người.

Chúng ta đón nhận mối tình rất đẹp này
và giữ riêng cho mình những gì rất gần,
để cùng hiểu, cùng thương và cùng hiến tặng.

Nguồn: Làng Mai

White Water Lily

Giữ gìn và nuôi dưỡng những hạt giống tốt

T.S. Thích Nhất Hạnh

  1. Mỗi khi xuất hiện, cái giận lại nuôi dưỡng thêm những hạt giống giận hờn trong tàng thức của ta. Nếu cái giận kéo dài trong năm phút thì biết bao nhiêu hạt giống chứa đựng cái giận lại được sinh sôi trong suốt thời gian năm phút đó.Tâm ta có hai phần: phần tàng thức là nơi cất giữ những hạt giống và phần ý thức là nơi mà các hạt giống biểu hiện. Ví dụ trong tàng thức ta có một hạt giống của cái giận. Khi nhân duyên đầy đủ thì hạt giống đó phát hiện thành một năng lượng gọi là cơn giận. Nó đốt cháy ta và làm ta đau đớn. Ta không còn vui khi hạt giống đó phát hiện trên phần ý thức ta.

     Vì vậy ta phải hết sức cẩn thận để lựa chọn lối sống cũng như những cảm xúc của ta. Khi ta nở một nụ cười thì hạt giống hạnh phúc được biểu lộ. Khi biểu lộ, nó gieo thêm những hạt giống tươi vui xuống tàng thức. Nếu ta không thực tập cười trong nhiều năm, hạt giống đó sẽ yếu đi và ta sẽ không còn có khả năng để cười được nữa.

    Tàng thức ta chứa đựng mọi hạt giống, tốt cũng như xấu. Một số do ta gieo trồng trong đời sống hàng ngày, một số do ông bà cha mẹ và xã hội trao truyền. Một hạt lúa nhỏ xíu chứa đựng cái biết của bao nhiêu thế hệ cây lúa về cách thức đâm chồi, trổ lá, ra hoa và hình thành bông lúa. Thân thể và tâm thức ta cũng vậy, được trao truyền cho ta từ bao nhiêu thế hệ; ông bà cha mẹ đã gieo trồng trong ta biết bao hạt giống an vui, hạnh phúc và cả những hạt giống khổ đau, buồn giận v.v…

    Mỗi khi ta thực tập chánh niệm là ta gieo trồng và củng cố những hạt giống lành mạnh đã có sẵn trong ta. Những hạt giống này cũng như những kháng thể. Khi có một con vi khuẩn chạy vào máu ta, lập tức thân thể ta có phản ứng, những kháng thể chạy tới bao quanh con vi khuẩn bắt nó phải biến dạng. Cũng vậy, nếu trong ta có nhiều hạt giống tươi mát lành mạnh, những hạt giống này sẽ biết cách đối phó với những hạt giống không tốt mà không cần đợi ta ra lệnh. Do đó, điều ta cần làm là dự trữ cho thật nhiều những hạt giống tốt.

    Một ngày nọ, chúng tôi được tin ông bạn láng giềng của chúng tôi, ông Mounet, qua đời. Ông là người Pháp và sống ở cạnh Làng Hồng. Ông là một người rất hiền hòa, dễ mến, ông đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc xây dựng Làng. Ông chết trong đêm vì bệnh tim, và sáng hôm sau chúng tôi được tin. Nghe qua chúng tôi rất bàng hoàng, vừa cảm thấy hối hận đã không để nhiều thì giờ tiếp xúc và sinh hoạt với ông.

    Tối hôm đó tôi khó ngủ. Mất một người bạn như ông là một điều đau đớn. Sáng hôm sau, tôi phải nói pháp thoại nên đêm đó tôi cố gắng dỗ giấc ngủ bằng cách niệm hơi thở. Trời mùa đông rất lạnh. Nằm trong chăn ấm, tôi nghĩ đến ba cây tùng loại Hy Mã Lạp Sơn tôi trồng trong sân của sơn cốc cách đó đã tám năm. Bây giờ cả ba cây đều lớn và rất đẹp. Mỗi khi đi thiền hành tôi đều dừng lại để vừa ôm cây vừa theo dõi hơi thở. Tôi tin rằng mấy cái cây cũng đáp ứng lại cái ôm của tôi. Nằm trong chăn, tôi tập thở và thấy mình vừa là ba cây tùng vừa là hơi thở. Tôi thấy dễ chịu hơn nhưng vẫn chưa ngủ được. Cuối cùng tôi nghĩ đến bé Trúc. Bé đến làng lúc hai tuổi, bé rất kháu khỉnh nên ai cũng muốn bồng muốn ẳm, nhất là các em nhỏ. Bây giờ bé đã sáu tuổi. Em bé trên tay ai cũng cảm thấy mình tươi mát như bé. Cho nên tôi đã mời bé hiện lên trong ý thức của tôi. Tôi thở và mỉm cười với bé. Một lúc sau thì tôi thiếp đi.

    Mỗi người chúng ta nên có một kho dự trữ những hạt giống lành, đẹp và mạnh để khi ta gặp khó khăn, chúng có thể đến giúp ta. Ðôi khi niềm đau quá lớn nên dù có bông hoa trước mắt ta cũng không thưởng thức được. Nhưng nếu ta có một cái kho dự trữ những hạt giống lành mạnh, ta có thể mời chúng đến giúp ta. Cũng như khi mình có một người bạn thân biết hiểu và thương mình, được ngồi gần người đó, dù không nói tiếng nào, mình vẫn cảm thấy khỏe khoắn. Và những lúc khó khăn mình thường nghĩ về người đó để “cả hai” cùng im lặng thở và mình thấy dễ chịu hơn.

    Nếu lâu ngày ta không gặp người bạn kia thì hình ảnh về người ấy có thể phai mờ. Mà nếu người bạn ấy là người duy nhất có thể giúp ta thì ta chỉ còn cách mua vé xe lửa đến gặp người bạn ấy. Người bạn sẽ hiện ra bằng xương bằng thịt chứ không phải chỉ là một hạt giống trong tiềm thức.

    Thời gian được ở gần người bạn, ta phải biết sống cho tỉnh thức, đừng để phí một giây phút nào, bởi ta đâu có được ở lâu, lý do là ta còn phải về nhà. Người bạn giúp ta lấy lại sự quân bình nhưng chính ta cũng phải tạo cho ta sự vững chải bên trong, nếu không thì lúc trở về một mình, ta lại cảm thấy chới với. Cho nên ta đừng nên kể lể than vãn nhiều, hãy chia sẽ niềm vui, để khi trở về nhà, ta sẽ có nhiều kỷ niệm đẹp, nhiều hạt giống tươi mát tốt lành, để khi hữu sự, gặp chuyện buồn phiền, chúng có thể giúp ta vượt qua những khó khăn.

Nguồn: Ðịa Tạng Vương Bồ Tát

Flower (1120)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình. Ông sinh ra ở Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam, vào ngày 11 tháng 10 năm 1926, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949. Pháp hiệu “Thích” được sử dụng bởi các nhà sư Việt Nam, nghĩa là họ là một phần của dòng tu Thích Ca. Ông là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lại Lạt-ma. Ông là người đưa ra khái niệm “Phật giáo dấn thân” (engaged Buddhism) trong cuốn sách Vietnam: Lotus in a Sea of Fire của ông.

TS. Thich Nhat Hanh (1)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh được sinh ra với tên húy là Nguyễn Xuân Bảo ở Thừa Thiên (miền trung Việt Nam) vào năm 1926. Vào năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc ở miền Trung Việt Nam, Thích Nhất Hạnh tu học thiền theo trường phái Đại thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949. Thích Nhất Hạnh bây giờ được công nhận là một thiền sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và các tu viện liên quan khác. Ông là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 của dòng Liễu Quán trong đời thứ 42 của phái thiền Lâm Tế Dhyana (Lin Chi Chan 臨濟禪, hay Rinzai Zen trong tiếng Nhật). Vào ngày 1 tháng 5 năm 1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh để từ đây ông trở thành một thiền sư (thầy dạy về thiền). Thích Nhất Hạnh đã phối hợp kiến thức của ông về nhiều trường phái thiền khác nhau cùng với các phương pháp từ truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, những nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật Giáo Đại thừa, và vài phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để tạo thành cách tiếp cận hiện đại của ông đối với thiền. Thích Nhất Hạnh đã trở thành một người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của Phật giáo phương Tây.

Vào năm 1956 ông là Tổng biên tập của Phật giáo Việt Nam, tờ báo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vào thập niên 1960, ông thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (School of Youth for Social Services – SYSS) ở Sài Gòn, một tổ chức từ thiện xây dựng lại các làng bị bỏ bom, xây dựng trường học và các trạm xá, và giúp các gia đình bị trở thành vô gia cư trong Chiến tranh Việt Nam. Ông cũng là một trong những người thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh và Nhà xuất bản Lá Bối. Viện Đại học Vạn Hạnh trở thành một viện đại học tư thục danh tiếng tập trung các nghiên cứu về Phật giáo, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Nhất Hạnh dạy giáo lý Phật giáo và Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajnaparamita). Trong một buổi gặp mặt vào tháng 4 năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh đưa ra thông điệp “lời kêu gọi vì hoà bình”. Nội dung chính của lời kêu gọi là “đã đến lúc hai miền Bắc-Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hoà bình với lòng tôn trọng lẫn nhau”.

Ông đã đến Hoa Kỳ nhiều lần để nghiên cứu và diễn thuyết tại Viện Đại học Princeton và Viện Đại học Cornell, và sau này giảng dạy tại Viện Đại học Columbia. Mặc dầu vậy, mục đích chính cho các chuyến đi ra nước ngoài (Mỹ và Âu Châu) của ông trong thời gian này vẫn là để vận động cho hòa bình. Ông kêu gọi Martin Luther King, Jr. công khai chống lại Chiến tranh Việt Nam, và thuyết giảng với nhiều người và nhiều nhóm về hòa bình. Vào năm 1967, King đề cử Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho Giải Nobel Hòa bình. Nhất Hạnh dẫn đầu phái đoàn Phật giáo đến Đàm phán hòa bình Paris. Là một trong những người thầy về Phật giáo ở phương Tây, những lời dạy và các phương pháp thực hành của Thích Nhất Hạnh thu hút nhiều người đến từ các quan điểm về tôn giáo, tâm linh và chính trị khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành “chánh niệm” (sự lưu tâm đúng đắn – Pali: Sati; Sanskrit:smṛti स्मृति; tiếng Anh: mindfulness), thường được điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây.

Năm 1966, ông lập ra Dòng tu Tiếp Hiện (“Tiếp” có nghĩa tiếp xúc, tiếp nhận, “Hiện’” có nghĩa thực hiện; tên tiếng Anh là The Order of Interbeing, tiếng Pháp là L’ordre de l’interêtre), và thiết lập các trung tâm thực hành và các thiền viện khắp trên thế giới. Nơi cư ngụ của ông là Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne thuộc miền Nam nước Pháp. Ông du hành khắp thế giới thuyết giảng và tổ chức các khóa tu thiền. Sau nhiều năm không được phép quay về Việt Nam, ông được về lần đầu tiên vào năm 2005. Nhất Hạnh vẫn tiếp tục các hoạt động vận động vì hòa bình. Ông đã tổ chức các khóa tu thiền cho người Israel và người Palestine, khuyến khích họ lắng nghe và học hỏi lẫn nhau; thuyết giảng kêu gọi các nước đang tham chiến hãy đình chiến và đi tìm các giải pháp bất bạo động cho các mâu thuẫn của họ; và tổ chức diễu hành hòa bình ở Los Angeles vào năm 2005 được tham dự bởi hàng ngàn người.

Nguyễn Thành An (Tổng Hợp)

Hoa 2014 (66)

Tình Thương và Giải Thoát

Đây là bài phỏng vấn của ông Melvin McLeod – chủ bút tờ báo Shambala Sun với Thiền Sư Làng Mai.

Tôi được hầu chuyện với Thiền Sư Thích Nhất Hạnh về đề tài:

1/ Tình thương đích thực.
2/ Những lợi lạc của khổ đau.
3/ Làm sao mình  thoát ra khỏi tình huống khổ đau nhờ đem chánh niệm nhìn sâu vào sự việc để thấy, hiểu ra, để chấp nhận và thương được.

Thầy cho chúng tôi biết: Thầy dạy Phật giáo nguyên thỉ bằng tinh thần của đại thừa. Tôi thì tôi nghĩ rằng: cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được ai có thể dạy những điều dạy chính thống  của Bụt một cách sáng sủa và mạnh mẽ như Thầy trình bày về đạo Phật.

(Melvin McLeod – chủ bút của báo Shambala)

Melvin McLeod: Kính thưa Thiền Sư, tại sao Chánh Niệm là chìa khóa của hạnh phúc?  

Thiền Sư Làng Mai: Chánh niệm đưa đến định. Định đưa đến cái thấy thâm sâu là tuệ giác. Tuệ giác giúp ta thoát khỏi cái thấy mê mờ của mình, thoát khỏi cái giận và tham đắm. Khi mà ta thoát khỏi được phiền não thì hạnh phúc có thể có mặt. Làm sao ta có thể hạnh phúc được khi ta đã đầy ắp nào là giận hờn, nào là si mê và tham lam? Thế nên cái thấy sâu sắc – tuệ giác – mới cởi  trói cho ta khỏi những ràng buộc khổ lụy ấy và mới là chìa khóa cho hạnh phúc.

Thường thì có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt. Nhưng ít khi nào ta để ý, nhận diện nó, bởi vì chúng ta không chánh niệm, không ý thức được những hạnh phúc đang có mặt. Khi thân và tâm đang cùng có mặt trong giây phút hiện tại, ta thật sự sống động, tỉnh táo. Ta thật sự có mặt, ta thật sự sống và tiếp xúc được khá sâu sắc với sự sống trong lúc này và tại đây. Thành ra, ta không chỉ tu tâm, mà ta còn tu cả với thân của ta nữa. Thân và tâm phải là một, không hai được. Trên căn bản ấy, bạn sẽ thấy những gì bạn đang tìm cầu đã có mặt từ lâu rồi, cho dù đó là giác ngộ, niết bàn, giải thoát, Phật, Pháp, Tăng hay là hạnh phúc, nó đều đang có mặt ở ngay bên bạn đó. Thật ra, phút giây hiện tại, đó là giây phút duy nhất mà bạn có thể tìm được những cái trên.

Ngược lại khi tâm và thân bị phân tán, khi mà ta chìm sâu vào suy tính tư duy… và ta không có mặt trong phút giây hiện tại, ta hành xử như là một cái xác, như người mộng du.

Có thể mọi người đều đồng ý rằng ta phải sống trong phút giây hiện tại đó, nhưng  cái thói quen để cho tâm bị trôi lăn, phân tán nó đã hiện diện trong ta lâu lắm rồi. Nó cứ đẩy ta đi vòng vòng cho nên ta đánh mất khả năng có mặt sâu sắc trong phút giây hiện tại. Vì thế sự tu luyện đúng mức rất quan trọng. Nghe thuyết pháp và đọc sách không chưa đủ. Ta phải thực tập đủ lâu để có tập khí mới, tập khí dừng lại được cái tâm rong ruổi, chạy tán loạn của ta để ta có thể an trú thân tâm trong phút giây hiện tại. Đó là sự thực tập đầu tiên: dừng lại, dừng lại, nhìn kỹ hơn, nhìn rõ hơn, nhìn sâu hơn và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt, thoát ra khỏi ngục tù của sự bị kéo đi bởi thói quen chê trách, than van, lúc nào cũng không vừa ý. Đó là con đường của Bụt.
.
Melvin McLeod: Thưa Thiền Sư, Thầy nhấn mạnh nhận diện niềm vui, sự hạnh phúc và sự hài lòng trong khi tu tập – niềm vui khi đặt những bước chân trên mặt đất, niềm vui khi hít vào một hơi thở chánh niệm. Có thể vì cái quá khứ học Phật quá cứng ngắc và nghiêm khắc của chúng tôi mà chúng tôi thấy dễ chấp nhận hơn khi nghe rằng “mình tu theo Bụt thì tu làm sao cho cứng cỏi, không để bị kéo đi bởi niềm vui. Đối với tôi, gần như là mình đi sai đường nếu trộn lẫn tôn giáo với thú vui và ăn mừng sự sống”

Thiền Sư Làng Mai: Tôi nghĩ rằng, phần đông khi lắng nghe Bụt dạy về bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ Diệu Đế)- nhất là sự thật đầu tiên, họ nghe những chữ như khổ đau, như phiền não và vì thế nên họ nghĩ rằng đạo Bụt là đạo chỉ nói đến khổ đau thôi. Nhưng họ không nhớ rằng sự thật thứ ba là để nói về hạnh phúc, cái ngược lại của sự thật thứ nhất là phiền não, khổ đau. Bốn sự thật mầu nhiệm mà Bụt dạy là: 1/ Có khổ đau, có phiền não, 2/ nhận diện con đường đưa ta đến chỗ khổ đau 3/ Có thể làm khổ đau vắng mặt, nghĩa là có hạnh phúc và 4/  có con đường dẫn tới hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nên trình bày đạo Bụt bắt đầu bằng hai sự thật thứ 3 và thứ 4 trước: 1/ Có thể có hạnh phúc ngay. 2/có con đường đưa tới hạnh phúc. 3/ Có thể ở tình trạng triền miên trong khổ đau 4/ Có cách nhận diện những nguyên nhân của khổ đau.
.
Melvin McLeod: Khi có chánh niệm, ta khám phá ra ta có nhiều niềm vui nhưng đồng thời cũng khám phá ra nhiều niềm đau và thương tích trong ta, đó là những kinh nghiệm khó xử khi thực tập chánh niệm. Xin Thiền Sư chỉ cách cho chúng tôi trong những trường hợp khi khổ đau trỗi dậy ?

Thiền Sư Làng Mai: Khổ đau và hạnh phúc liên hệ chằng chịt với nhau. Chúng ta chỉ nhận diện được hạnh phúc khi có một quá khứ khổ đau. Ví dụ như ta thấy rõ hơn những chữ trắng nếu nó nằm trên nền đen. Nếu ta đã từng đói ta mới thấm thía được niềm hạnh phúc khi có ăn. Nếu ta đã từng khổ đau vì chiến tranh ta mới thấy tất cả giá trị lớn lao của hòa bình. Nếu không, bạn sẽ không trân quý hòa bình, bạn chỉ muốn đánh giặc thôi.

Thành ra, kinh nghiệm của ta về những khổ đau không lường được của chiến tranh sẽ giúp ta tìm nhiều cách để gìn giữ hòa bình. Vì thế nếu có được những kinh nghiệm đau buồn là điều rất tốt, nhờ thế mà trên nền tảng ấy ta nhận diện được hạnh phúc.

Phần đông chúng ta, ai cũng có một khuynh hướng thâm sâu là tìm về khoái lạc và tránh khổ đau. Điều này có nguyên nhân sâu xa trong tàng thức của ta, phần này của tâm ta gọi là mạt na thức. Tiếng Bắc Phạn Sanskrit là Manas, là một phần trong tâm mỗi người, chỉ muốn  tìm về chỗ hưởng thụ và lẩn tránh khổ đau. Mạt Na thức không ý thức cái hiểm nguy của các sự hưởng thụ ấy. Như con cá đã được báo trước là hãy coi chừng những miếng mồi ngon vì bên trong nó có thể có lưỡi câu móc họng. Nhưng nó vẫn không cưỡng được sự cuốn hút của miếng mồi. Mạt Na cũng không thấy được cái lợi lạc của bài học khổ đau. Chúng ta cũng nên tập chấp nhận khổ đau bởi vì khi ta đau, muốn vượt được khổ đau ấy ta phải tập hiểu sâu hơn vấn đề thì mới thương và chấp nhận được để thoát ra khỏi niềm đau ấy. Bởi vì tâm ta vốn không biết cái hiểm nguy của dục lạc, cũng như không biết về cái lợi lạc của bài học khổ đau nên chúng ta phải chuyển vào tàng thức cái tuệ giác đó. Bởi vì chỉ để một mình ý thức tu tập thôi thì chưa đủ để chuyển hóa tận gốc những nỗi khổ niềm đau. Cái mà ý thức có thể làm là quán chiếu để đạt tới cái thấy sâu sắc đó và tải xuống tàng thức cái tuệ giác kia.

Cái tuệ giác đầu là thấy rằng sự tìm kiếm dục lạc rất nguy hiểm và sau đó là nếu đang khổ đau thì phải học cho được bài học từ khổ đau, khổ đau cũng có cái lợi lạc của nó. Nếu ta chánh niệm, nếu ta đủ can đảm để trở về với chính ta và ôm ấp nỗi khổ của chúng ta thì ta sẽ học được nhiều lắm. Khuynh hướng thông thường là lẩn tránh nỗi khổ, niềm đau nhưng ta nên làm ngược lại. Nhận diện nó, nhìn sâu và tìm cách chuyển hóa nó. Nếu ta chỉ biết trốn chạy nỗi khổ thì ta sẽ không có cơ hội chuyển hóa. Bởi thế cho nên Bụt dạy ta, trước hết là chấp nhận sự thật thứ nhất, sự thật là mình đang có khổ đau. Sau đó là nhìn sâu vào khổ đau để có thể tìm ra sự thật thứ hai là nguyên nhân đưa ta đến cái khổ đó. Đó là cách duy nhất để cho sự thật thứ ba, con đường hành trì để chuyển hóa khổ đau, đưa tới hạnh phúc có thể xuất hiện được. Vì thế ta nên nhấn mạnh đến vai trò của khổ đau. Nếu ta quá sợ khổ đau thì chúng ta không có cơ hội thành tựu những khám phá ấy.

shambhala-sun-july-2010_tnh_interview-bmpMelvin McLeod: Tôi nghĩ là ai ai trong chúng ta cũng từng có thương một người trong cuộc đời và ta sẽ sẵn sàng gánh chịu hết những khổ đau của người kia và sẵn sàng trao tặng cho người đó những hạnh phúc ta có. Nhưng làm sao để trải rộng tình thương đó ra cho mọi người? Làm như thế thì cuối cùng mới chuyển được  thế giới? Làm sao nhân lớn lên và làm lan rộng ra cái tình thương mà mỗi người trong ta đều có?

Thiền Sư Làng Mai: Khi ta mới lọt khỏi lòng mẹ, vừa tách rời cung điện ấm áp (tử cung) của mẹ, ta bắt đầu sợ hãi, cái sợ đầu tiên đó nó thật lớn và thật sâu bởi vì ta có thể chết trong giây phút trọng đại, nguy ngập ấy. Rồi người ta lại cắt mình ra khỏi cái cuống rốn đã nuôi nấng mình khá lâu trong bụng mẹ. Giờ đây thì mình phải tự thở lấy. Phổi của mình khi ở trong bụng mẹ thì có nước, nhưng trong giây phút trọng đại này, ta phải đẩy chất nước ấy ra khỏi phổi để tự hít vào hơi thở đầu tiên, nếu làm không được thì mình sẽ chết.

Thành ra, kinh nghiệm đầu tiên của ta về cái sợ là lúc đó và cái ước muốn ban đầu muốn được sống sót nó cũng được sinh ra lúc ấy. Cái ước muốn đầu tiên được sống còn cũng được phát sinh từ lúc ấy. Kinh nghiệm sợ hãi ban đầu được phát sinh từ lúc ấy. Là một em bé mới sinh, mình thấy mình thật bất lực. Mình sẽ không sống sót nổi nếu không có ai đến chăm sóc mình. Khi mình nghe bước chân của ai đó đến gần để chăm sóc mình thì mình hạnh phúc. Cả ngày mình chỉ chờ đợi tiếng chân đến gần mình bởi vì mình biết sau khi tiếng chân đến gần là có sữa, có sự ấm áp, có mọi thứ… Đó là cái sợ ban đầu và cái thèm khát ban đầu được phát sinh.

Rồi khi mình lớn lên, cái thèm khát có một người yêu cũng là sự tiếp nối từ cái thèm khát ban đầu đó. Mình thấy cần có một người để chăm sóc mình, nếu phải sống một mình thì thiếu thiếu cái gì đó và mình thấy hơi bất lực, mong manh. Mình không tự thấy yên tâm nếu chỉ sống một mình. Vì vậy cứ tìm cách có một người yêu cùng sống bên nhau, đó cũng chứng tỏ là cái thèm khát ban đầu (khi mới sơ sinh) vẫn còn đó, rằng mình không cảm thấy an tâm nếu không có ai bên cạnh.

Thế nên người yêu, người bạn hôn phối cũng là một loại tiếp nối sự thỏa mãn cái thèm khát ban đầu, cái nhu yếu có mẹ có bố kề bên. Ta thấy có sự an ổn ngay khi có mẹ một bên, có bố kề bên. Thật ra không phải sự có mặt thật sự của bố, của mẹ mới làm cho mình an tâm. Thật ra  chính cái ý niệm là “mẹ đang ở đây mà” hay là “bố đang ở đây mà” đã khiến cho mình có cảm giác an ổn rồi. Nhưng sau một thời gian thì mình thấy người ở kề bên mình ấy làm phiền mình quá và mình muốn ly dị. Thế nên thật ra không phải vì sự hiện diện của anh chàng hay cô nàng ấy cho mình có cảm tưởng thoải mái mà chính là cái ý niệm trong đầu mìnhcái thèm khát ban đầu khi còn bé thơ nó đã sai khiến. Tình yêu, trong đạo Bụt lúc nào cũng bắt đầu bởi chính mình trước khi có sự xuất hiện của những người khác trong cuộc đời mình. Tình thương theo Bụt dạy là khi mình trở về “nhà” (thân và tâm) của chính mình. Mình nhận diện được nỗi khổ trong tâm mình, cái sợ ban đầu, cái thèm khát ban đầu… Sự hiểu biết sâu sắc nỗi khổ của mình khiến mình nhẹ ra và biết thương mình nhiều hơn, bởi vì mình quyết định đạt tới trọn vẹn tiềm năng của mình. Và vì thế mình không cần phải có một người nào khác để mà bắt đầu thương. Ta nên bắt đầu bằng chính ta.

Tình thương chân thật không phải là phải chọn một người. Khi tình thương có mặt, mình tỏa rạng ra như một ngọn đèn. Đèn không chỉ chiếu lên trên một vài người trong phòng này, đèn sáng lên thì tất cả mọi sự vật xung quanh đều được hưởng. Cũng thế, nếu thật tình ta có tình thương trong ta  thì mọi người quanh ta đều thừa hưởng  – chẳng những con người được hưởng mà ngay cả cầm thú, cỏ cây và đất đá cũng được ân chiêm. Tình thương chân thật là như vậy. Tình thương chân thật là xả, là bao trùm tất cả.

Thành ra, muốn trải tình thương ra thật rộng, thật xa thì ta nên tập thấy thương, và tinh tấn tu tập để hoàn tất sự trọn vẹn, viên thông nơi chính mình.

Melvin McLeod: Sư cô Chân Không hướng dẫn chúng tôi để thấy được nhiều nguyên nhân, nhiều điều hiện  và nhiều yếu tố để làm nên con người ta như: bố mẹ, tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và nhiều yếu tố văn hóa, xã hội .v.v.. hiện những thứ ấy vẫn đang có trong ta. Làm thế thì có giúp đỡ gì không?

Thiền Sư Làng Mai: Cái ngã của mỗi người được thành lập bởi những yếu tố không phải là ngã và cái tuệ giác vô ngã ấy sẽ giúp ta thoát ra khỏi  những mặc cảm hơn thua. Chúng ta được cấu tạo bởi những điều kiện không phải là ta. Khi ta nhìn sâu, ta sẽ thấy trong ta có tất cả những đường nét và tập khí của tổ tiên, cha mẹ, văn hóa, xã hội, bạn bè và tất cả quanh ta.
.
Melvin McLeod: Rất nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy về giáo lý tương tức bằng những danh từ rất trừu tượng nhưng tôi thấy cái cách nhìn vào chính bản thân ta với từng yếu tố rõ rệt đến từ đâu đã ảnh hưởng ta ra sao, về mặt tích cực cũng như  tiêu cực nó giúp đỡ ta nhiều lắm.

Thiền Sư Làng Mai: Tôi nghĩ rằng giáo lý Bụt dạy rất đơn giản, ta cần trình bày cho đơn giản để trẻ em cũng hiểu được. Sáng nay chúng tôi đã hướng dẫn một buổi thiền tập quán chiếu vào gia đình mình và những yếu tố vẫn còn có mặt trong ta “Thở vào tôi thấy cha tôi lúc mới lên năm, yếu đuối và mong manh. Tôi mỉm cười với đứa bé lên năm (vốn là bố tôi) với lòng từ bi.” Cái cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc với cái sự thực của vô ngã với các yếu tố không phải là ta đang nằm trong ta. Khi ta thấy được cha ta có những yếu tố bị xâm nhập từ tuổi thơ – không phải là cha – khiến cha dữ dằn bạo động như thế thì ta có thể sẽ hiểu và thương được cha, dù cha có tệ bạc. Và ta cũng thấy được cha đang có mặt trong từng tế bào trong ta với những khổ đau, những tập khí và cả những tài năng của cha trong ta.

Nếu ta có tài năng thì đó cũng là sự tiếp nối của cha mà thôi .Thực tập như vậy sẽ đem tới tuệ giác tương tức rất cụ thể, tuệ giác vô ngã cũng cụ thể. Nó sẽ giúp ta thoát khỏi giận hờn, oán trách cha mà ngược lại ta còn biết tri ân cha v.v.. Tại sao mình không quán chiếu những yếu tố không phải là ta trong ta không những bằng tuệ giác mà còn bằng tình thương nữa? Tuệ giác và tình thương là một. Tuệ giác đưa tới tình thương và tình thương không thể nào có được nếu không có hiểu, không có tuệ giác. Nếu ta không hiểu thì không thể nào ta thương được. Tuệ giác này là cái hiểu trực tiếp, không phải chỉ là những khái niệm, những tư tưởng trừu tượng. Trong thiền quán ta phải ta cho phép ta được soi sáng bởi ánh sáng của  tuệ giác này. Thỉnh thoảng ta phải cần sử dụng một hình ảnh để ta có thể hiểu rõ hơn. Ví dụ tôi hay giải thích cho các cháu bé rằng rất khó cho một cây bắp nhớ nổi, tưởng tượng nổi nó từng là một hạt bắp. Thế nhưng đó là sự thật, nếu các cháu và người lớn thấy được sự tương tức giữa hạt bắp và cây bắp thì mọi người cũng thấy được sự tương tức giữa cha và con, mẹ và con. Nếu sự thật đó được tiếp xúc qua tuệ giác của thiền quán thì giận hờn trách móc sẽ tan biến và tình thương có thể phát sinh.
.
Melvin McLeod: Thiền Sư là thầy của một truyền thống Thiền, với một hiểu biết sâu xa về các truyền thống Phật giáo khác, vậy mà suốt quá trình huấn luyện cho thiền sinh trong năm ngày liên tiếp thầy chỉ nói phớt qua chữ Thiền. Ngược lại thầy dạy rất kỹ về những phương pháp căn bản để tu tập chánh niệm, về tứ diệu đế (bốn sự thật mầu nhiệm). Vì sao thầy chọn cách giáo dục này?

Thiền Sư Làng Mai: Có loại Phật giáo nguyên thỉ từ hồi Bụt còn tại thế, đạo Phật do chính Bụt giảng dạy và nhiều trường phái Phật giáo đã phát sinh bởi những thế hệ đi sau. Nhưng cho dù là Phật Giáo nguyên thỉ, Thiền, Thiên Thai tông hay Kim Cương Thừa thì đó cũng là những điều Bụt dạy. Sự hành trì của Bụt đã được tiếp nối bởi các vị đệ tử của Ngài – tuệ giác và sự dạy dỗ của Ngài được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ dù Ngài đã nhập niết bàn từ lâu. Ta thấy được Bụt qua nhiều thế hệ các đại sư và đệ tử của họ. Điều mà tôi đang làm là trình bày những cách hành trì nguyên thỉ ngay từ hồi Bụt còn tại thế, trong tinh thần Phật Giáo Đại Thừa. Phật Giáo Đại Thừa có cái nhìn rất cởi mở, không gò bó và thật là mầu nhiệm. Tôi muốn trình bày Phật giáo từ hồi Bụt còn tại thế bằng tinh thần thoáng rộng này. Khi ta sử dụng Phật Giaó Đại Thừa để tìm hiểu, nhìn sâu vào Phật Giáo nguyên thỉ, ta có thể khám phá ra biết bao nhiêu là điều kỳ diệu, sâu sắc hơn nhiều. Ta ý thức rằng những lời dạy sâu sắc nhất của Phật Giáo đại thừa có thể tìm ra trong các kinh điển nguyên thỉ. Những tư tưởng phóng khoáng của đại thừa đã có rành mạch trong các kinh nguyên thỉ.

Những hạt giống của Phật giáo đại thừa đầy dẫy trong Phật giáo nguyên thỉ. Thành ra khi ta dùng từ Phật giáo nguyên thỉ điều đó không có nghĩa là ta loại ra ngoài những Phật giáo khác, những truyền thống mới khai triển sau này. Tôi chỉ muốn đem tất cả các truyền thống về tận gốc nguyên thỉ của họ. Phật giáo nguyên thỉ được xem như mẫu số chung của tất cả các truyền thống khác, mẫu số chung của mỗi truyền thống Phật giáo. Thế nên tôi đã cống hiến những điều Bụt dạy ngay từ những năm đầu của quá trình dạy dỗ của Ngài, trong tinh thần đại thừa. Phật giáo Bụt dạy những năm đầu rất đơn giản – mà cũng rất thâm sâu. Nhiều học giả đã làm cho Phật giáo trở nên rắc rối, biến  đạo Phật thành một loại siêu hình học, một loại triết học. Một số sinh viên Phật học đã bỏ quá nhiều thì giờ cho những hệ thống tư duy này và không có thì giờ tu tập. Cũng như thiền sư Lâm Tế (Trung quốc gọi là Linji, Nhật gọi là Rinzai) Ngài học Phật quá nhiều nhưng sau đó cảm thấy không đủ. Vì thế ngài bỏ hết những học thuyết và bắt đầu thực  hành.
.
Melvin McLeod: Bởi vì Phật giáo ở phương Tây còn quá sơ khai, trong giai đoạn đầu, Thầy có nghĩ rằng có thể Phật giáo nguyên thỉ sẽ hợp với người Tây Phương hơn là những điều dạy dỗ đã được khai triển về  sau phải không?

Thiền Sư Làng Mai: Không phải là một giáo lý riêng biệt nào mới thích hợp với thời đại nào mà quan trọng là cách ta hiểu điều đó và cách ta sử dụng nó. Nếu ta là một học giả và ta chỉ sử dụng trí năng của ta mà thôi thì ta có thể giải thích giáo lý theo cách này, trong khi nếu ta là một hành giả thực tập thật tình thì có thể ta sẽ khám phá được chiều sâu của giáo lý và tiếp xúc được với tuệ giác phát sinh từ sự thực tập của ta. Và nhờ thế, ta có thể trình bày cái giáo lý kia một cách hoàn toàn khác hẳn với người chỉ dùng trí năng. Thành ra vấn đề là không phải giáo lý này hay hơn, hay giáo lý kia thích hợp hơn, vấn đề là biết cách áp dụng thật tình điều mình học và trình bày ra sự tu tập của mình cho thích hợp, đồng thời giúp người nghe hành trì cho có hiệu quả. Tuy nhiên, tôi rất là ngạc nhiên mà thấy bài pháp thoại đầu tiên do Bụt thuyết vẫn còn thích hợp cho thời đại chúng ta. Sau 2500 năm, bài thuyết pháp đầu tiên vẫn có giá trị vững chãi. Trong bài thuyết pháp đầu tiên ta tìm được đầy đủ những điều Bụt dạy mà ta có thể sử dụng suốt đời. Điều đó thật đáng kinh ngạc.
.
Melvin McLeod: Trong những điều Thiền Sư dạy, Thầy nhấn mạnh đến yếu tố tăng thân, yếu tố phải có một nhóm người cùng tu tập chung, Thầy dạy điều đó nhiều hơn các thầy khác. Tại sao điều đó lại quan trọng như thế đối với Thầy ?

Thiền Sư Làng Mai: Xây dựng tình huynh đệ, tình chị em thật là thiết yếu trong tăng thân, nếu tăng thân hạnh phúc thì họ có thể là nơi nương tựa cho nhiều người. Chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân của chúng tôi từ nhiều thập niên trước và nó đã trưởng thành làm một tăng thân chính chắn và vững chãi. Có nhiều người đã từng tu tập lâu năm đến tham dự một khóa tu thì khóa tu ấy sẽ có năng lượng vững chãi của tăng thân. Trong kinh có kể chuyện về quốc vương Ba Tư Nặc của thành Xá Vệ. Ngài gặp Đức Thế Tôn lần cuối, khi ấy cả hai đều đã 80 tuổi, nhà vua nói:  “ Bạch đức Thế Tôn, mỗi khi con gặp tăng thân của ngài thì con thấy được ngài rõ hơn và con càng quý trọng ngài hơn.” Tôi thấy thật ý nghĩa khi thiên hạ có thể thấy được Bụt qua tăng thân của Người. Tăng thân là công trình, là tác phẩm lớn nhất của Bụt. Bụt là một nghệ sĩ và tăng thân là công trình nghệ thuật của người nghệ sĩ kia.Thành ra, Bụt vẫn còn đang sống cho đến ngày hôm nay trong tăng thân. Khi mà bạn thấy các thầy, các sư cô cùng các bạn cư sĩ tu tập nghiêm túc, thảnh thơi và an lạc là các bạn có thể thấy được sự hiện diện của Bụt .
.
Melvin McLeod: Gần đây Thầy đã kêu gọi tăng thân cũng như những người đã ủng hộ những nguyên tắc hoà bình nên ủng hộ Tổng Thống Obama. Vì sao mà Thầy  làm như vậy ?

Thiền Sư Làng Mai: Chắc anh biết, tôi gặp Mục Sư Martin Luther King Jr. từ năm 1966. Chúng tôi bàn với nhau về sự cần thiết của một cộng đồng cùng tu tập chung để đối kháng lại thế giới bạo động, tôi đã dùng từ tăng thân (theo ngôn từ Phật giáo) còn Martin thì dùng chữ (beloved community) cộng đồng dễ thương.  Chúng tôi bàn về nhân quyền, về hòa bình, về bất bạo động và v.v.. Những điều Mục Sư Martin Luther King Jr.  và tôi đang làm rất gần gũi nhau – xây dựng một nhóm người, nhiều nhóm người cùng sống bên nhau, hợp nhất và làm cho hài hòa những hạt giống trí tuệ, từ bi và bất bạo động của nhau. Lời tuyên bố này của tôi về Obama chỉ là sự tiếp nối của công trình ấy. Chúng tôi đã cùng gieo trồng những hạt giống ấy và khi Obama biểu hiện, chúng tôi thấy Obama có khả năng nói lời ái ngữ, lời hiểu biết và không kỳ thị. Nhưng Obama cũng rất mong manh – ông không thể nào tiếp tục là Obama nếu ông không được sự ủng hộ của một cộng đồng khá vững chãi, của những người đã tin tưởng nơi những nguyên tắc hoà bình, bất bạo động như ông… Có thể trong tương lai những cố vấn quân sự và kinh tế của ông sẽ kéo ông đi về nẻo khác. Vì lẽ đó nên tôi kêu gọi tăng thân phải ủng hộ Obama, để cho ông tiếp tục còn là ông, giữ vững lập trường mà trước đó ông đã chứng minh là ông đã làm được, như là dùng lời ái ngữ và giúp lấy ra những tri giác sai lầm giữa Mỹ Châu và thế giới của người A Rập. Có rất nhiều dấu hiệu chứng minh rằng Obama đã có ý định, đã có khát khao thực hiện hòa bình, muốn xây dựng tình huynh đệ và có sự không kỳ thị v.v.. Ủng hộ Obama không phải là ủng hộ một đảng phái chính trị nhưng là ủng hộ cách làm chính trị mà hiện tại ta không thường thấy trong thế giới các chính trị gia nơi chính trường. Obama đại diện cho một loại tỉnh thức mới, một  loại thao thức mới, một loại hành động mới. Điều đó thật đẹp nhưng làm sao mà giữ cho cái thao thức mới ấy được tiếp tục lâu dài? Hiện tại chung quanh Obama có quá nhiều yếu tố dường như đang kéo Obama đi về nẻo khác. Thế nên ta phải động viên tối đa các cộng đồng tu tập đang đi về hướng hòa bình nhân bản đó, ta phải giúp che chở ông Obama để Obama còn có thể tiếp tục là Obama càng lâu càng tốt. Điều đó không phải là ủng hộ một đảng phái mà là ủng hộ một ước vọng thâm sâu, một thao thức hướng về nẻo chân thiện mỹ.
.
Melvin McLeod: Thầy sắp cho một pháp thoại ở Thị Xã Nữu Ước với đề tài: Xây dựng một Xã Hội hòa bình và Từ Bi” Thế nào là con đường đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi? Năm phép tu tập chánh niệm mà Thầy sử dụng từ Năm giới của người Phật tử truyền thống để biến thành những điều phát nguyện thích hợp với tình huống hiện thời của thế giới. Đó có phải là phương châm không?

Thiền Sư Làng Mai: Thường thì tuệ giác tương tức sẽ giúp đẩy lui sự kỳ thị, sợ hãi và cách nhìn nhị nguyên sự việc. Chúng ta liên hệ thâm sâu với nhau dù trong khổ đau hay trong hạnh phúc, vì thế cho nên tuệ giác tương tức (liên hệ thâm sâu) phải được xem là nền tảng cho bất cứ hành động nào có thể đem tới hòa bình, tình huynh đệ và giúp lấy ra bạo động, tuyệt vọng. Tuệ giác này có mặt trong tất cả các truyền thống tâm linh. Ta chỉ cần trở về nhà với chính truyền thống của ta và gắng làm sống lại với những hạt giống ấy.

Năm cách tu tập chánh niệm là những pháp môn rất cụ thể để thực tập thương yêu. Trong truyền thống Phật giáo của chúng tôi, chúng tôi cứ pháp đàm để tìm cách làm sao áp dụng năm giới một cách hữu hiệu trong đời sống hằng ngày. Năm giới quý báu ấy là để hành động, chứ không phải để suy luận và ức đoán. Ghi tên để xin thọ nhận năm phép tu tập chánh niệm ấy không phải là ký tên ủng hộ một kiến nghị mà là làm cho nó trở thành sự sống của chính mình, nó là con đuờng lý tưởng của mình. Và bạn sẽ rất hạnh phúc vì bạn biết bạn đã có một con đường của hiểu biết và thương yêu. Nếu mà mình biết là mình đã có con đuờng của hiểu và thương rồi thì mình không có lý do gì mà sợ hãi về tương lai của mình nữa cả. Và mình có thể chia sẻ con đường lý tưởng của mình, chia sẻ cái cách mình tu tập để nuôi dưỡng và phát triển hiểu biết và tình thương với các bạn thuộc truyền thống khác. Họ không cần trở thành Phật tử, họ chỉ cần trở về truyền thống tâm linh của họ, sống cho sâu sắc và tìm cho ra những gì tương đương với năm phép tu chánh niệm của Phật tử nơi truyền thống của các bạn. Mục đích của ta không phải là để thay đổi niềm tin của các bạn từ truyền thống khác và biến họ thành Phật tử, mà chỉ là chia sẻ con đường của hiểu biết và thương yêu. Bạn đó vẫn tiếp tục là tín hữu Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo. Và bạn cứ làm như chúng tôi đang làm. Chúng tôi dùng ngôn từ Phật giáo, còn bạn thì nên dùng ngôn từ Hồi giáo mà tu tập và chúng ta sẽ cùng đi đến một kết quả như nhau. Thế nên ta mới có thể gọi là một đường hướng tâm linh toàn cầu hay là một nền đạo đức toàn cầu.
.
Melvin McLeod: Quả thật là mầu nhiệm nếu tất cả các vị lãnh đạo tâm linh từ nhiều truyền thống khác nhau có thể đến cùng nhau và bàn bạc làm thế nào để có một nền đạo đức toàn cầu để mọi người đều có thể cùng tu tập chung.

Thiền Sư Làng Mai: Có thể họ cũng không cần đến với nhau cùng ngồi chung một chỗ. Họ chỉ cần ngồi yên nơi chốn của họ và tu tập làm khơi dậy cái hiểu cho thâm sâu và mở rộng tình thương cho mọi người, mọi loài. Đó là cách gặp nhau sâu sắc nhất.


Melvin McLeod:
Cám ơn thầy vô cùng. Thầy thật là từ bi, Thầy cho chúng tôi từng ấy thì giờ. Đây là một danh dự lớn cho tôi và tôi cũng biết đọc giả chúng tôi sẽ vô cùng lợi lạc.

___________
Shambhala Sun | July 2010
You’ll find this article on page 44 of the magazine.

Nguồn: Làng Mai

M Scholl's Garden 2014 (21)
Vao thu 2014 (2)

RECENT POSTS

♦♦♦ Hoa Sala – Loài hoa nơi cửa Phật

♦♦♦ Hoa sen

♦♦♦ Nuôi dưỡng Tâm từ thiện

♦♦♦ THÀNH KÍNH TƯỞNG NIM: Sư Cô Thích Nữ Bửu Liên

♦♦♦ Vườn Nhật Portland trong nắng chiều thu

♦♦♦ Triển Lãm Ikebana Hoa Cúc mùa Thu 2014

♦♦♦ NHÂN DUYÊN ĐỨC PHẬT DẠY KINH CHÂU BÁU

♦♦♦ CƠN ĐAU TIM VÀ NƯỚC!

♦♦♦ Cây lồng đèn!

♦♦♦ TINH THẦN CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ

♦♦♦ Audio Book: HIỂU VỀ TRÁI TIM

♦♦♦ Tản mạn về hơi thở
.

TS. Thich Nhat Hanh (103)

Tâm Nguyện

Lấy những tràng hoa vi diệu nhất
Hương thơm, âm nhạc và tâm con
Sử dụng mọi thứ trang nghiêm ấy
Con đem cúng dường các Như Lai.

Từ xưa con đã tạo nghiệp xấu
Vì tham, sân, si từ vô thỉ
Do thân, miệng, ý mà phát sinh
Nay con đều sám hối tất cả.

Con xin tùy hỷ mọi công đức
Của các chúng sinh trong mười phương
Các bậc hữu học và vô học
Các bậc Như Lai và Bồ Tát.

Những ngọn đèn sáng soi thế gian
Hoặc mới thành tựu đạo giải thoát
Con xin tất cả đều thương tưởng
Chuyển bánh xe pháp để độ đời.

 Con xin mượn mười sáu câu
trong Kinh Mười Nguyện Phổ Hiền
Thiền Sư Nhất Hạnh dịch, (219 tạng Kinh Ðại Chánh) 
là Tâm Nguyện của LSV. 

LSV xin chân thành cảm tạ các WEBSITES đã phổ biến các bài Pháp – bài Văn – Kinh Ðiển – Kinh Tụng – Pháp Thoại – Nhạc Phật Giáo… đã giúp chúng tôi dễ dàng thực hiện trang nhà LSV.
Xin nguyện hồi hướng công đức lăn chuyển bánh xe Chánh Pháp này đến chúng sanh, tất cả đều trọn thành Phật Ðạo. LSV.
 Sen hong

Lotus
HOA SEN

Thơ Rabindranath Tagore
(Hoang Phong chuyển ngữ)

On the day when the lotus bloomed, alas, my mind was straying,
and I knew it not. My basket was empty and the flower remained unheeded.

Hôm ấy vào ngày hoa sen nở,
Lòng tôi lơ đãng lạc phương nao?
Trên tay giỏ hoa dường trống rỗng,
Cánh hoa lạc bước tận phương nào?

Only now and again a sadness fell upon me, and I started up from my
dream and felt a sweet trace of a strange fragrance in the south wind.

Hôm nay và đã biết bao lần,
Trong tôi ray rứt bao sầu muộn.
Giật mình tỉnh giấc từ trong mộng,
Bàng hoàng hương thoảng gió phương nam.

That vague sweetness made my heart ache with longing and it seemed to
me that is was the eager breath of the summer seeking for its completion.

Ngọt ngào hương toả tim đau nhói,
Gió hè rạo rực từng hơi thở.
Gợi nhớ trong tôi cõi trống không,
Bao lần trông ngóng tôi chờ đợi.

I knew not then that it was so near, that it was mine, and that this
perfect sweetness had blossomed in the depth of my own heart.

Nào ngờ hoa nở cạnh bên tôi.
Vì tôi hoa tỏa hương ngào ngạt.
Thật gần, gần lắm hoa đang nở,
Ô kìa hoa nở đáy lòng tôi.

Thơ Rabindranath Tagore
(Hoang Phong chuyển ngữ)
Bures-Sur-Yvette , 31.12.10
.

TS. Thich Nhat Hanh (69)Cảm tác Làng Mai

Tâm Quang Từ

Lắng tiếng chuông ngân, lặng cõi lòng
Nghe trong sâu thẳm chốn hư không
Dừng chân đứng lại, tâm an trụ
“Đã tới, đã về” thỏa ước mong.

Gió thổi, chiều buông, tĩnh lặng yên
Làng Mai in dấu bước chân thiền
Ngày sau biết có ai đi lại
Dẫm lối hôm nay đã xóa chìm.

Nơi cốc Ngồi Yên ngắm rạng đông
Chim kêu chào đón ánh mai hồng
Ngoài kia thấm đẫm sương rơi giọt

Nâng cốc trà thơm, ấm cõi lòng.

Nắng sớm, hồ sen tỏa ngát hương
Chợt nghe thấp thoáng lẽ vô thường
Trang nghiêm vẻ đẹp, đời trông ngắm

Lặng lẽ phai tàn, chẳng vấn vương.

Anh ở trời xa, tôi cũng xa
Gặp nhau huynh đệ, bốn phương nhà
Tình thân thoáng chốc nên duyên ngộ
Mai có rời xa, nhớ tiếng ca.

Hạt giống gieo mầm ắt nở hoa
Đóa sen thơm ngát chốn ta bà
Sâu trong tiềm thức còn vang vọng
“Đã tới, đã về” khúc hát ca.

( Làng Mai, khóa tu mùa hè 2014)

Lang Mai  (20)Lang Mai  (22)

  • Bướm bay vườn cải hoa vàng-N. Hạnh

    Tôi không bao giờ khôn lớn Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm ? Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng.....
  • November 2014
    M T W T F S S
    « Oct    
     12
    3456789
    10111213141516
    17181920212223
    24252627282930
  • Câu nói ghi nhớ của Ðức Phật:

    “Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, hãy thể hiện lòng từ. Nếu bạn muốn được hạnh phúc, hãy rèn luyện lòng từ.”
  • Archives

  • Recent Posts

  • Phước đức và Công đức

    Phước đức xuất phát từ hành động, nói năng, suy nghĩ thiện (lợi mình lợi người). Công đức có 2 nghĩa: Một là đức tạo ra từ công lao hành thiện, nghĩa này giống với nghĩa phước đức. Hai là ám chỉ cái đức của Đạo, hay nói cách khác là cái đại dụng của pháp. Bậc giác ngộ thì mọi hành động nhỏ nhặt nhất của họ đều là công đức, dù đó là hành động duy tác, không thiện không ác. Nhưng một người làm thiện với bản ngã thì tuy có phước đức vẫn không có công đức nào cả. (TS. VM)
  • NHỮNG TƯ TƯỞNG HAY

    Bốn ý tưởng hay cho cuộc sống: Nhìn lại đàng sau để có Kinh nghiệm ! Nhìn về phía trước để thấy Hy vọng ! Nhìn xung quanh để tìm ra Thực tại ! Nhìn vào bên trong để tìm thấy Chính mình!
  • Hạnh phúc không phải là chỗ đến, mà chính là cách đi - Margaret B. Runbeck
  • Người thông minh cầu nguyện không phải để thoát nạn, mà để mình không sợ hãi. R.W.Emerson